Tóm tắt Kiến thức chương 7 môn Triết học Mác Lê nin
Tài liệu tóm tắt Chương 7 môn Triết học Mác - Lênin trình bày các cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật như: nguyên nhân – kết quả, tất nhiên – ngẫu nhiên, khả năng – hiện thực, nội dung – hình thức, bản chất – hiện tượng. Mỗi cặp phạm trù được phân tích rõ khái niệm, mối quan hệ biện chứng và vai trò trong nhận thức và thực tiễn. Tài liệu giúp sinh viên hiểu sâu hơn về cách tiếp cận khoa học và toàn diện đối với các hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy.
chương 7 triết họckhả năng – hiện thựclý luận triết họcnguyên nhân – kết quảphép biện chứng duy vậtphạm trù biện chứngtriết học Mác - Lênintriết học cơ bảntất nhiên – ngẫu nhiênôn tập triết học
Những cặp phạm trù cơ bản
của phép biện chứng duy vật
I- Một số vấn đề chung về phạm trù
1. Định nghĩa phạm trù và phạm trù triết học
Để suy nghĩ và trao đổi tư tưởng, con người thường sử dụng những khái niệm nhất định (như "cái cây", "cái nhà", "thực vật", "con người"...).
Những khái niệm đó là hình thức của tư duy phản ánh những mặt, những thuộc tính cơ bản của một lớp những sự vật hiện tượng nhất định của hiện thực khách quan.
Tùy theo mức độ bao quát mà có các khái niệm rộng hay hẹp khác nhau. Khái niệm rộng nhất được gọi là phạm trù.
- Phản ánh những mối liên hệ chung trên một lĩnh vực nhất định.
- Toán học: "số", "hình", "điểm", "mặt phẳng", "hàm ".
- Vật lý học: "khối lượng", "vận tốc", "gia tốc", "lực".
- Kinh tế học: "hàng hóa", "giá trị", "tiền tệ", "lợi nhuận".
- Phản ánh những mối liên hệ cơ bản và phổ biến nhất của toàn bộ thế giới hiện thực (tự nhiên, xã hội, tư duy).
- Ví dụ: "vật chất", "ý thức", "vận động", "mâu thuẫn", "chất lượng", "nguyên nhân", "kết quả".
- Mọi sự vật đều có nguyên nhân xuất hiện, đều có quá trình vận động, đều có mâu thuẫn...
2. Bản chất của phạm trù
Trong lịch sử triết học, có nhiều cách giải quyết khác nhau về bản chất của phạm trù:
Cho rằng: Phạm trù là những thực thể ý niệm, tồn tại bên ngoài và độc lập với ý thức của con người.
Cho rằng: Phạm trù chỉ là những từ trống rỗng, do con người tưởng tượng ra, không biểu hiện một cái gì của hiện thực.
Coi phạm trù chỉ là những hình thức tư duy vốn có của con người, có trước kinh nghiệm, bẩm sinh, tiên nghiệm.
Các phạm trù không có sẵn bẩm sinh, cũng không tồn tại độc lập bên ngoài. Chúng được hình thành trong quá trình hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người.
Mỗi phạm trù xuất hiện là kết quả của nhận thức trước đó, đồng thời là bậc thang cho quá trình nhận thức tiếp theo để tiến gần đến bản chất sự vật. V.I.Lênin gọi chúng là "những điểm nút của màng lưới, giúp ta nhận thức và nắm vững được màng lưới".
Hình thành bằng con đường khái quát hóa, trừu tượng hóa những thuộc tính, mối liên hệ vốn có. Nội dung mang tính khách quan, nhưng hình thức thể hiện là chủ quan.
Hệ thống phạm trù không khép kín, bất biến. Chúng thường xuyên được bổ sung, vận động và phát triển cùng với thực tiễn và nhận thức khoa học.
II- Cái riêng và cái chung
1. Khái niệm cái riêng và cái chung
Hàng ngày ta tiếp xúc với những cái bàn, cái cây, cái nhà cụ thể. Mỗi sự vật đó là một "cái riêng". Giữa chúng có những mặt giống nhau (như cùng làm từ gỗ, có hình dạng...) gọi là "cái chung".
Là phạm trù chỉ một sự vật, một hiện tượng, một quá trình nhất định.
Là phạm trù chỉ những mặt, những thuộc tính được lặp lại trong nhiều sự vật, hiện tượng riêng lẻ khác.
Chỉ những nét, thuộc tính chỉ có ở một sự vật, không lặp lại ở sự vật khác (Ví dụ: Đặc điểm phố cổ chỉ có ở Hà Nội).
2. Quan hệ biện chứng giữa "cái riêng" và "cái chung"
Không có cái chung thuần túy tồn tại bên ngoài. Không có "cái cây" nói chung tồn tại cạnh cây cam, cây quýt cụ thể. Nhưng cây nào cũng có rễ, thân, lá... đặc tính chung đó biểu hiện thông qua cây cụ thể.
Không có cái riêng nào tồn tại tuyệt đối độc lập. Mỗi con người (cái riêng) chịu sự tác động của quy luật sinh học, xã hội (cái chung). Nền kinh tế mỗi quốc gia đều bị chi phối bởi quy luật cung - cầu.
Cái riêng phong phú hơn vì nó bao gồm cái chung cộng với cái đơn nhất (Ví dụ: Nông dân VN ngoài đặc điểm chung còn có tập quán, văn hóa làng xã riêng). Cái chung sâu sắc hơn vì nó phản ánh thuộc tính bản chất, ổn định, tất nhiên, quy định sự phát triển.
Cái mới ra đời ban đầu là cái đơn nhất, sau hoàn thiện thay thế cái cũ thành cái chung. Cái cũ lỗi thời từ chỗ là cái chung mất dần đi trở thành cái đơn nhất. Điều này thể hiện quá trình tiến hóa và phát triển.
3. Ý nghĩa phương pháp luận
Muốn nhận thức cái chung, phải xuất phát từ cái riêng, phân tích thực tế, không xuất phát từ ý muốn chủ quan. Phải nghiên cứu so sánh nhiều sự vật riêng lẻ.
Hoạt động thực tiễn phải dựa vào cái chung để cải tạo cái riêng. Tuy nhiên, khi áp dụng lý luận (cái chung) phải tùy biến cho thích hợp với từng hoàn cảnh cụ thể (cái riêng).
Cần chủ động tạo điều kiện thuận lợi để "cái đơn nhất" có lợi trở thành "cái chung", và ép "cái chung" bất lợi trở thành "cái đơn nhất" và mất đi.
III- Nguyên nhân và kết quả
1. Khái niệm nguyên nhân và kết quả
Chỉ sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau, gây ra một biến đổi nhất định.
Chỉ những biến đổi xuất hiện do tác động lẫn nhau gây ra.
Vốn có của bản thân sự vật, không phụ thuộc vào ý thức con người. Dù biết hay không, sự vật vẫn tác động và sinh biến đổi.
Mọi hiện tượng trong tự nhiên, xã hội đều có nguyên nhân. Không có hiện tượng không có nguyên nhân, chỉ là đã nhận thức được hay chưa.
Cùng một nguyên nhân, trong điều kiện hoàn cảnh giống nhau sẽ gây ra kết quả như nhau (hoàn cảnh càng ít khác nhau thì kết quả càng giống).
2. Quan hệ biện chứng
- Không phải hiện tượng nào nối tiếp thời gian cũng là nhân quả (Ví dụ: Ngày kế tiếp đêm không phải vì đêm sinh ra ngày, mà do Trái đất quay). Nhân quả đòi hỏi tính sản sinh.
- Phức tạp: Một kết quả có thể do nhiều nguyên nhân (Mất mùa do hạn hán, bão, sâu bệnh...). Một nguyên nhân có thể sinh ra nhiều kết quả (Chặt rừng gây lụt, đổi khí hậu, diệt sinh vật...).
- Nhiều nguyên nhân tác động cùng chiều -> kết quả nhanh hơn. Tác động ngược chiều -> triệt tiêu, cản trở kết quả. Do đó cần phân tích vai trò để phát huy đúng hướng.
Chuỗi nhân quả là vô cùng tận. Cái là kết quả ở mối quan hệ này lại là nguyên nhân ở mối quan hệ khác.
Tác động trở lại: Kết quả sau khi xuất hiện có ảnh hưởng ngược lại nguyên nhân theo hướng tích cực (thúc đẩy) hoặc tiêu cực (cản trở).
3. Ý nghĩa phương pháp luận
Nhận thức khoa học phải tìm ra nguyên nhân thực tế trong thế giới vật chất, không được tưởng tượng chủ quan. Phải tìm nguyên nhân xảy ra trước hiện tượng.
Một hiện tượng có nhiều nguyên nhân, cần phân loại (cơ bản, chủ yếu, bên trong/ngoài, chủ/khách quan) để xác định chiều hướng tác động.
Kết quả tác động ngược nguyên nhân. Cần khai thác, tận dụng các kết quả đã đạt được để thúc đẩy nguyên nhân phát huy tác dụng tốt hơn (như tận dụng thành tựu đổi mới để đổi mới mạnh hơn).
IV- Tất nhiên và ngẫu nhiên
1. Khái niệm tất nhiên và ngẫu nhiên
Chỉ cái do những nguyên nhân cơ bản bên trong quyết định. Trong điều kiện nhất định, nó phải xảy ra như thế chứ không thể khác.
Chỉ cái do các nhân tố bên ngoài, hoàn cảnh kết hợp quyết định. Nó có thể xuất hiện hoặc không, hoặc xuất hiện khác đi.
Phân biệt: Cái tất yếu là cái chung, nhưng không phải mọi cái chung đều tất yếu. Mọi người đều cần ăn mặc (chung tất yếu). Nhưng sở thích ăn mặc giống nhau là do ý muốn (chung ngẫu nhiên). Cả ngẫu nhiên và tất nhiên đều có nguyên nhân và quy luật riêng!
2. Mối quan hệ biện chứng
Đều tồn tại độc lập ý thức. Tất nhiên chi phối sự phát triển, ngẫu nhiên làm nó diễn ra nhanh hay chậm (Ví dụ cá tính lãnh tụ ảnh hưởng tốc độ phong trào).
Tất nhiên bộc lộ qua vô số cái ngẫu nhiên. Ngẫu nhiên là hình thức biểu hiện của tất nhiên (Ví dụ sự xuất hiện lãnh tụ là tất yếu, nhưng người đó cụ thể là ai lại là ngẫu nhiên).
Trao đổi hàng hóa thời nguyên thủy ban đầu là ngẫu nhiên, khi sản phẩm dư thừa nhiều biến thành hiện tượng tất nhiên. Ranh giới chỉ là tương đối.
3. Ý nghĩa phương pháp luận
- Hoạt động thực tiễn phải dựa vào cái tất nhiên, không thể dựa vào ngẫu nhiên. Nhưng phải có phương án dự phòng cho biến cố ngẫu nhiên vì nó có thể ảnh hưởng sâu sắc.
- Muốn nhận thức cái tất nhiên phải thông qua việc nghiên cứu, phân tích, so sánh rất nhiều cái ngẫu nhiên. Phải tìm ra cái chung tất yếu.
- Không được xem nhẹ ngẫu nhiên, vì trong điều kiện nhất định ngẫu nhiên có thể chuyển hóa thành tất nhiên.
V- Nội dung và hình thức
1. Khái niệm nội dung và hình thức
Chỉ tổng hợp tất cả những mặt, yếu tố, quá trình tạo nên sự vật.
VD: Nội dung cơ thể động vật là toàn bộ tế bào, khí quan, hệ thống hoạt động...
Chỉ phương thức tồn tại, là hệ thống các mối liên hệ tương đối bền vững giữa các yếu tố của sự vật.
VD: Trình tự sắp xếp, liên kết các tế bào, hệ thống tương đối bền vững...
2. Mối quan hệ biện chứng
Luôn gắn bó chặt chẽ. Nội dung nào hình thức nấy. Tuy nhiên, 1 nội dung có thể có nhiều hình thức thể hiện (sản xuất giống nhau nhưng tổ chức khác nhau), và 1 hình thức có thể chứa đựng nhiều nội dung khác nhau.
Nội dung biến đổi nhanh, hình thức tương đối bền vững. Khi nội dung phát triển làm hình thức cũ lạc hậu, kìm hãm -> Hình thức phải thay đổi để phù hợp nội dung mới (VD: Quan hệ sản xuất phải thay đổi để phù hợp Lực lượng sản xuất).
Hình thức có tính độc lập tương đối. Nếu phù hợp, nó thúc đẩy nội dung phát triển. Nếu không phù hợp, nó ngăn cản, kìm hãm (VD: Cơ chế bao cấp kìm hãm năng lực, kinh tế thị trường định hướng XHCN thúc đẩy sản xuất phát triển).
3. Ý nghĩa phương pháp luận
- Không được tách rời tuyệt đối hóa. Đặc biệt cần chống chủ nghĩa hình thức.
- Phải chủ động sử dụng nhiều hình thức khác nhau đáp ứng yêu cầu thực tiễn cách mạng.
- Nhận thức và cải tạo phải căn cứ vào nội dung trước.
- Thường xuyên đối chiếu nội dung và hình thức, làm cho hình thức phù hợp để thúc đẩy nội dung.
VI- Bản chất và hiện tượng
1. Khái niệm bản chất và hiện tượng
Chỉ sự tổng hợp tất cả những mặt, mối liên hệ tất nhiên, tương đối ổn định bên trong sự vật, quy định sự vận động và phát triển.
Chỉ sự biểu hiện ra "bên ngoài" của bản chất.
Bản chất quan hệ tư bản - công nhân là bóc lột giá trị thặng dư. Nhưng hiện tượng biểu hiện ra bên ngoài là sự bình đẳng (tự do ký hợp đồng, nhà tư bản chăm lo sức khỏe...).
* Bản chất gắn với cái chung nhưng bản chất hẹp hơn cái chung. Bản chất cùng bậc với Quy luật, nhưng Bản chất bao gồm tổng hợp nhiều quy luật nên rộng và phong phú hơn.
2. Mối quan hệ biện chứng
Bản chất luôn bộc lộ qua hiện tượng; hiện tượng nào cũng biểu hiện bản chất ở mức độ nhất định. Bản chất nào hiện tượng nấy. Bản chất đổi -> hiện tượng đổi. V.I.Lênin viết: "Bản chất hiện ra. Hiện tượng là có tính bản chất".
- Bản chất phản ánh cái chung, tất yếu; Hiện tượng phản ánh cái riêng, cá biệt.
- Hiện tượng phong phú hơn bản chất (cùng 1 bản chất thể hiện ở nhiều hiện tượng). Bản chất sâu sắc hơn hiện tượng.
- Bản chất tương đối ổn định, ít biến đổi. Hiện tượng thường xuyên biến đổi.
- Bản chất ở sâu xa bên trong; Hiện tượng ở bên ngoài, biểu hiện biến đổi, nhiều khi xuyên tạc bản chất.
3. Ý nghĩa phương pháp luận
Muốn nhận thức bản chất, phải xuất phát từ sự vật, hiện tượng thực tế. Phải phân tích, tổng hợp rất nhiều hiện tượng điển hình. Nhận thức là quá trình đi từ hiện tượng đến bản chất (từ cấp 1 đến cấp 2, vô hạn).
Nhận thức không dừng ở hiện tượng. Trong thực tiễn, xác định phương thức hoạt động phải dựa vào bản chất, không được dựa vào hiện tượng bề ngoài.
VII- Khả năng và hiện thực
1. Khái niệm khả năng và hiện thực
Chỉ những cái đang tồn tại trên thực tế.
Chỉ cái chưa xuất hiện, chưa tồn tại trên thực tế, nhưng sẽ xuất hiện khi có điều kiện. Bản thân khả năng thì có tồn tại sự thực.
Phân loại khả năng:
- Khả năng tất nhiên (do quy luật nội tại) / Khả năng ngẫu nhiên (do tương tác bên ngoài).
- Khả năng gần (đủ/gần đủ điều kiện) / Khả năng xa (chưa đủ điều kiện, phải qua quá độ).
2. Mối quan hệ biện chứng
Trong hiện thực chứa đựng khả năng -> vận động biến khả năng thành hiện thực mới -> lại nảy sinh khả năng mới. Ở cùng một sự vật, trong một điều kiện có thể tồn tại nhiều khả năng (Văn kiện ĐH IX chỉ rõ ta có cả "cơ hội lớn" và "thách thức lớn" cùng lúc).
Ngoài khả năng sẵn có, điều kiện mới làm xuất hiện khả năng mới, hoặc làm khả năng thay đổi.
Để biến thành hiện thực cần tập hợp nhiều điều kiện (VD: cách mạng XHCN cần 4 điều kiện mà Lênin nêu). Trong xã hội, hoạt động có ý thức của con người đóng vai trò to lớn, có thể đẩy nhanh hoặc kìm hãm quá trình này.
3. Ý nghĩa phương pháp luận
Định ra chủ trương, phương hướng phải dựa vào hiện thực (sự thật chứng minh được). Nếu chỉ dựa vào khả năng dễ rơi vào ảo tưởng.
Tuy nhiên phải tính đến các khả năng (phân biệt khả năng gần/xa, tất nhiên/ngẫu nhiên) để lên kế hoạch chủ động, sát hợp.
Trong xã hội, phải chú ý phát huy nguồn lực con người, tạo điều kiện thuận lợi phát huy tính năng động sáng tạo của cá nhân. Tránh hai cực đoan: tuyệt đối hóa nhân tố chủ quan (duy ý chí) hoặc hạ thấp nhân tố chủ quan (bó tay, khuất phục).
18.753 xem 16 kiến thức 20 đề thi
14.806 lượt xem 18/11/2025

4.469 lượt xem 11/07/2025

11.408 lượt xem 14/04/2026

20.548 lượt xem 11/02/2026

18.566 lượt xem 10/04/2026

5.368 lượt xem 09/06/2025
19.170 lượt xem 13/01/2026

6.752 lượt xem 11/07/2025

19.388 lượt xem 19/01/2026

