Tóm tắt kiến thức chương 4 - Luật Hiến Pháp (ULSA)

Tóm tắt đầy đủ kiến thức trọng tâm Chương 4: Quốc Tịch môn Luật Hiến Pháp (Đại học Luật - ULSA). Nội dung bao gồm khái niệm quốc tịch, nguyên tắc xác định quốc tịch (huyết thống, nơi sinh), vấn đề một và nhiều quốc tịch, các trường hợp thay đổi quốc tịch (nhập, thôi, mất, tước) và lịch sử pháp luật quốc tịch Việt Nam (Luật 1998, 2008, 2014).

tóm tắt luật hiến phápluật hiến phápchương 4 quốc tịchquốc tịchchế định quốc tịchluật quốc tịch việt namULSAđại học luậtôn tập luật hiến phápnguyên tắc quốc tịchnhập quốc tịchthôi quốc tịchtước quốc tịchluật quốc tịch 2008luật quốc tịch 2014

 

4.1. Quốc tịch

4.1.1. Khái niệm

Quốc tịch là mối quan hệ pháp lí - chính trị có tính chất lâu dài, bền vững, ổn định cao về mặt thời gian, và không bị giới hạn về mặt không gian, giữa một cá nhân cụ thể với một chính quyền nhà nước nhất định.

Đây là chế định cơ bản của Luật Hiến pháp, là tiền đề pháp lí bắt buộc để cá nhân được hưởng các quyền và thực hiện nghĩa vụ công dân của nhà nước đó.

Đặc tính của mối quan hệ quốc tịch:

- Tính ổn định (thời gian): Mối quan hệ này rất bền vững, không dễ dàng thay đổi trừ những trường hợp đặc biệt với điều kiện khắt khe. 
- Tính không giới hạn (không gian): Dù công dân ở bất cứ đâu (trong hay ngoài nước), họ đều chịu sự chi phối của nhà nước và đồng thời được nhà nước bảo đảm quyền, yêu cầu thực hiện nghĩa vụ.

4.1.2. Cơ sở cho sự ra đời và tồn tại của quốc tịch

Quốc tịch có quan hệ khăng khít, không tách rời với nhà nước. Sự ra đời, tồn tại hay mất đi của nhà nước quyết định sự ra đời, tồn tại hay mất đi của quốc tịch.

Khi một chính quyền nhà nước được thành lập, giai cấp thống trị ban hành pháp luật về quốc tịch để điều chỉnh quan hệ giữa nhà nước và các cá nhân. Mối quan hệ pháp lí - chính trị này (quốc tịch) được hình thành một cách tự động và trực tiếp cùng với sự thiết lập chính quyền nhà nước. Nó mang tính khách quan, không phụ thuộc ý chí chủ quan.

4.1.3. Quốc tịch với vấn đề quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân

Mối quan hệ này là mối quan hệ tiền đề: Phải xác định quốc tịch của một người trước khi có thể xác định các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân mà người đó được hưởng/phải thực hiện.

Quốc tịch là chế định có tính chất tiền đề, trong khi quyền và nghĩa vụ là chế định trung tâm của Luật Hiến pháp về địa vị pháp lý công dân.

4.2. Một số vấn đề cơ bản trong nội dung pháp luật về quốc tịch trên thế giới

4.2.1. Đường lối chính trị - pháp lý trong pháp luật về quốc tịch của các nước trên thế giới

Pháp luật về quốc tịch giữ vị trí quan trọng, thể hiện đường lối chính trị - pháp lý của quốc gia, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Các đường lối này biểu hiện ở 3 điểm chính:

1. Hạn chế nhập quốc tịch với người đối lập: Các quốc gia thường hạn chế hoặc không cho những người có xu hướng đối lập về chính trị, hệ tư tưởng (như Hoa Kỳ) nhập quốc tịch. Các điều kiện hạn chế phổ biến khác là về tư cách đạo đức, việc chấp hành pháp luật, thời gian cư trú, hoặc sức khỏe (như Pháp, Lào, Thụy Điển).

2. Phản ánh chính sách dân số: 
- Nước có tỉ lệ tăng dân số cao: Thường quy định chặt chẽ, khắt khe điều kiện nhập quốc tịch. 
- Nước có tỉ lệ tăng dân số thấp: Thường quy định điều kiện thuận lợi cho việc nhập quốc tịch (VD: Canada, Australia, Pháp).

3. Thể hiện tính quốc tế: Thể hiện xu hướng công nhận mọi người đều có quyền có quốc tịch, và tìm cách hạn chế, ngăn chặn tình trạng không có quốc tịch.

4.2.2. Nguyên tắc xác định quốc tịch nguyên thủy (quốc tịch gốc)

Có hai tiêu chí lớn (nguyên tắc) để xác định quốc tịch gốc của một cá nhân: huyết thống và nơi sinh.

4.2.2.1. Tiêu chí huyết thống (Jus Sanguinis)

Đây là tiêu chí phổ biến nhất ở đại đa số các quốc gia. Các giải pháp phổ biến:

- Cả cha và mẹ cùng quốc tịch: Đứa con sinh ra đương nhiên mang quốc tịch của cha mẹ, không phụ thuộc nơi sinh. 
- Cha và mẹ khác quốc tịch: Quốc tịch của con là do sự thỏa thuận của cha mẹ. 
- Chỉ cha hoặc mẹ có quốc tịch (người kia không quốc tịch): Đứa trẻ theo quốc tịch của người cha hoặc mẹ có quốc tịch.

4.2.2.2. Tiêu chí nơi sinh (Jus Soli)

Một số nước coi trọng tiêu chí này hơn. Theo đó, trẻ em sinh ra trên lãnh thổ của nhà nước nào thì mang quốc tịch của nhà nước đó, không phụ thuộc vào quốc tịch của cha mẹ.

Tiêu chí này có lợi thế trong các trường hợp cha mẹ là người không có quốc tịch, hoặc đứa trẻ được tìm thấy trên lãnh thổ mà không rõ cha mẹ là ai. Một số nước (Canada, Australia) còn quy định cả quốc tịch theo nơi sinh là tàu biển, máy bay mang quốc tịch của nước đó.

Phân tích nâng cao: So sánh hai nguyên tắc xác định quốc tịch gốc

Tiêu chíNguyên tắc Huyết thống (Jus Sanguinis)Nguyên tắc Nơi sinh (Jus Soli)
Căn cứ xác địnhQuốc tịch của cha, mẹ.Nơi đứa trẻ được sinh ra (lãnh thổ).
Ưu điểmDuy trì sự gắn bó gia đình, dân tộc.
Phổ biến ở các quốc gia có lịch sử lâu đời.
Giải quyết triệt để T/H trẻ bị bỏ rơi, cha mẹ không rõ, hoặc cha mẹ không quốc tịch.
Nhược điểmKhông giải quyết được T/H trẻ bị bỏ rơi, cha mẹ không quốc tịch.Có thể không phản ánh sự gắn bó về văn hóa, gia đình (VD: cha mẹ chỉ du lịch/công tác).
Xung đột tiêu biểuTrẻ em có cha mẹ (quốc tịch A, theo Huyết thống) sinh ra tại (quốc gia B, theo Nơi sinh) → Trẻ có thể có 2 quốc tịch (A và B).

4.2.3. Về nguyên tắc một chiều hay nhiều quốc tịch

Pháp luật các nước quy định rất khác nhau, dẫn đến tình trạng nhiều người có hai hoặc nhiều quốc tịch, hoặc có người không có quốc tịch nào.

- Luồng 1: Nguyên tắc một quốc tịch: Nhiều nước quy định rõ ràng, chặt chẽ một người chỉ được mang một quốc tịch (VD: Trung Quốc, Lào, Nga, Nhật Bản). 
- Luồng 2: Thừa nhận nhiều quốc tịch: Nhiều nước công khai thừa nhận hoặc có các quy định gián tiếp dẫn đến tình trạng một người mang nhiều quốc tịch (VD: Pháp, Canada, Australia). Họ không yêu cầu người nhập quốc tịch phải từ bỏ quốc tịch gốc, hoặc không quy định công dân của họ mất quốc tịch khi nhập quốc tịch nước khác.

Tình trạng nhiều quốc tịch cũng có thể phát sinh do xung đột pháp luật (như ví dụ ở bảng trên) hoặc T/H phụ nữ lấy chồng ở nước quy định quốc tịch vợ theo chồng.

Hậu quả: Gây khó khăn cho hoạt động quản lí và bảo hộ công dân. Các nước đã quan tâm hạn chế tình trạng này, như trong Định ước Lahay (1930).

4.2.4. Vấn đề thay đổi quốc tịch

Gồm hai nội dung lớn: Mất quốc tịch và Nhập quốc tịch.

4.2.4.1. Về vấn đề mất quốc tịch

Thường tập trung vào 3 nội dung:

1. Phân biệt rõ: 
- Mất quốc tịch do xin phép (tự nguyện xin thôi). 
- Mất quốc tịch do tác động của pháp luật (ngoài ý muốn). 
- Bị tước quốc tịch (mang tính chế tài, trừng phạt).

2. Các trường hợp không cho thôi quốc tịch: 
- Đang nợ thuế hoặc các nghĩa vụ tài chính. 
- Đang bị truy tố hình sự hoặc đang phải thi hành bản án. 
- Liên quan đến lý do an ninh, chính trị.

3. Đối tượng bị tước quốc tịch: 
- Người có quốc tịch gốc (thường trú ở nước ngoài) có hành vi vi phạm nghiêm trọng về chính trị (phản bội Tổ quốc, vi phạm an ninh quốc gia). 
- Người đã được nhập quốc tịch nhưng có hành vi gian lận (khi xin nhập) hoặc phạm tội.

4.2.4.2. Về vấn đề nhập quốc tịch

Hầu hết các nước yêu cầu người xin nhập quốc tịch đảm bảo các điều kiện sau:

- Phải thực hiện đầy đủ thủ tục. 
- Phải đạt đến độ tuổi nhất định (thường là tuổi thành niên). 
- Phải có thời gian cư trú nhất định. 
- Phải biết ngôn ngữ và có khả năng hòa nhập cộng đồng. 
- Phải đáp ứng yêu cầu về "tư cách đạo đức". 
- Phải đáp ứng yêu cầu về sức khỏe.

Ngoài ra, các nước có thể có các quy định về điều kiện ưu đãi tùy theo chính sách.

4.3. Những vấn đề cơ bản trong pháp luật Quốc tịch Việt Nam

4.3.1. Sự hình thành và phát triển của pháp luật Quốc tịch Việt Nam

- Trước 1945: Nước ta không có độc lập, không có Nhà nước Việt Nam chủ quyền nên cũng không có quốc tịch Việt Nam. 
- Sau 1945 (Việt Nam DCCH): Để khẳng định chủ quyền, Hồ Chủ tịch đã ký nhiều sắc lệnh về quốc tịch (SL 53-SL, 73-SL, 25-SL...). 
- Đặc điểm giai đoạn đầu: 
+ Ngay từ đầu đã khẳng định nguyên tắc một quốc tịch
+ Thể hiện nguyên tắc bình đẳng nam nữ, bình đẳng dân tộc và nhân đạo. 
+ Hạn chế: Các quy định còn tản mạn, thiếu hệ thống. Đặc biệt, Sắc lệnh 53-SL còn hạn chế (chưa bình đẳng nam-nữ, ưu tiên quốc tịch theo cha).

- Luật quốc tịch Việt Nam năm 1988: 
+ Là đạo luật đầu tiên của Nhà nước ta về quốc tịch, quy định đầy đủ, toàn diện và có hệ thống. 
+ Hạn chế: Do ban hành thời kỳ đầu đổi mới, luật còn mang tính khung, khái quát, khó áp dụng. Quy định về nguyên tắc một quốc tịch chưa chặt chẽ, dẫn đến tình trạng nhiều công dân (đặc biệt là người định cư ở nước ngoài) có hai quốc tịch.

- Luật quốc tịch Việt Nam năm 1998: 
+ Được ban hành để sửa đổi Luật 1988, cho phù hợp với Hiến pháp 1992. 
+ Mục tiêu: Đảm bảo thực hiện chặt chẽ nguyên tắc một quốc tịch, giải quyết tồn tại về hai quốc tịch do lịch sử để lại.

4.3.2. Các nội dung cơ bản của Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1998

4.3.2.1. Nguyên tắc Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chỉ công nhận công dân Việt Nam có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam

Điều 3 Luật 1998 quy định rõ ràng: "Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam công nhận công dân Việt Nam có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam". Đây là nguyên tắc một quốc tịch triệt để.

Để khắc phục hạn chế của Luật 1988, Luật 1998 quy định cơ chế ngăn ngừa 2 quốc tịch:

- Khi nhập quốc tịch Việt Nam: Khoản 3 Điều 20 quy định công dân nước ngoài được nhập QT Việt Nam thì "không còn giữ quốc tịch nước ngoài" (buộc phải từ bỏ), trừ trường hợp đặc biệt do Chủ tịch nước quyết định. 
- Quy định trường hợp mất quốc tịch mặc nhiên: 
+ Trẻ em được tìm thấy trên lãnh thổ VN (mặc nhiên có QT VN) nếu tìm thấy cha mẹ đều có quốc tịch nước ngoài thì đương nhiên mất QT Việt Nam. 
+ Con chưa thành niên đương nhiên mất QT Việt Nam nếu cha mẹ (cùng sinh sống) được thôi QT Việt Nam.

4.3.2.2. Có quốc tịch Việt Nam

Những người có quốc tịch Việt Nam bao gồm:

1. Những người đang có quốc tịch Việt Nam cho đến ngày Luật 1998 có hiệu lực.

2. Những người có quốc tịch Việt Nam do sinh ra (theo quy định của Luật 1998).

Luật 1998 xác định quốc tịch do sinh ra dựa trên cơ sở kết hợp hài hòa cả hai tiêu chí huyết thống và nơi sinh, nhằm bảo vệ quyền lợi của trẻ em.

Các trường hợp cụ thể:

- Huyết thống (tuyệt đối): Trẻ em sinh ra có cha mẹ đều là công dân Việt Nam → Có QT Việt Nam (không kể sinh trong hay ngoài lãnh thổ VN). 
- Huyết thống (một bên): Trẻ em sinh ra có cha hoặc mẹ là CDVN, người kia là người không quốc tịch (hoặc mẹ là CDVN, cha không rõ) → Có QT Việt Nam. 
- Huyết thống + Thỏa thuận: Cha hoặc mẹ là CDVN, người kia là công dân nước ngoài → Có QT Việt Nam, nếu có sự thỏa thuận bằng văn bản của cha mẹ. 
- Nơi sinh (cho người không quốc tịch): Trẻ em sinh ra trên lãnh thổ VN mà cha mẹ đều là người không quốc tịch (hoặc mẹ không QT, cha không rõ) nhưng có nơi thường trú ở Việt Nam → Có QT Việt Nam. 
- Nơi sinh (trẻ bị bỏ rơi): Trẻ sơ sinh bị bỏ rơi và trẻ em được tìm thấy trên lãnh thổ Việt Nam mà cha mẹ không rõ là ai → Có QT Việt Nam.

4.3.2.3. Nhập quốc tịch Việt Nam

Công dân nước ngoài và người không quốc tịch đang thường trú ở Việt Nam có thể được nhập QT Việt Nam nếu có đủ 5 điều kiện (Điều 20):

1. Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ. 
2. Tuân thủ Hiến pháp, pháp luật VN; tôn trọng truyền thống, phong tục, tập quán. 
3. Biết tiếng Việt đủ để hòa nhập. 
4. Đã thường trú ở Việt Nam từ 5 năm trở lên. 
5. Có khả năng bảo đảm cuộc sống tại Việt Nam.

Trường hợp được miễn (không cần) điều kiện 3, 4, 5:

- Là vợ, chồng, con, cha hoặc mẹ của công dân Việt Nam. 
- Có công lao đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam. 
- Có lợi cho Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Trường hợp không cho nhập: Những người mà việc nhập quốc tịch của họ làm phương hại đến lợi ích quốc gia Việt Nam.

4.3.2.4. Trở lại quốc tịch Việt Nam

Những người đã mất quốc tịch Việt Nam có thể được trở lại nếu thuộc một trong các trường hợp:

- Xin hồi hương về Việt Nam. 
- Có vợ, chồng, con, cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam. 
- Có công lao đóng góp... 
- Có lợi cho Nhà nước...

Trường hợp không cho trở lại: Nếu việc đó làm phương hại đến lợi ích quốc gia của Việt Nam.

4.3.2.5. Mất quốc tịch Việt Nam

Các trường hợp mất quốc tịch Việt Nam:

1. Được thôi quốc tịch Việt Nam:

- Là trường hợp công dân tự nguyện xin phép thôi QT Việt Nam (thường để nhập quốc tịch nước khác). 
- Các trường hợp chưa được thôi (tạm thời): 
+ Đang nợ thuế hoặc nghĩa vụ tài chính. 
+ Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự. 
+ Chưa chấp hành xong bản án, quyết định của tòa án. 
- Các trường hợp không được thôi (tuyệt đối): 
+ Việc xin thôi làm phương hại đến lợi ích quốc gia của Việt Nam. 
+ Cán bộ, công chức và những người đang phục vụ trong các lực lượng vũ trang.

2. Bị tước quốc tịch Việt Nam:

- Áp dụng (chỉ) đối với 2 đối tượng: 
+ Công dân Việt Nam cư trú ở nước ngoài. 
+ Người đã được nhập quốc tịch Việt Nam. 
- Lý do: Có hành động gây phương hại nghiêm trọng đến độc lập dân tộc, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hoặc uy tín của Việt Nam.

3. Các trường hợp khác:

- Mất quốc tịch theo điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia. 
- Bị hủy bỏ quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam (do cố ý khai báo sai sự thật, giả mạo giấy tờ khi xin nhập).

4.3.2.6. Thay đổi quốc tịch của người chưa thành niên và của con nuôi

1. Người chưa thành niên (thay đổi theo cha mẹ):

- Khi cha mẹ (cùng) thay đổi QT (nhập, thôi, trở lại) → Quốc tịch của con chưa thành niên (sinh sống cùng cha mẹ) được thay đổi theo. 
- Khi chỉ cha hoặc mẹ thay đổi QT → Quốc tịch của con được xác định theo sự thỏa thuận bằng văn bản của cha mẹ. 
- Trường hợp đặc biệt: Khi cha mẹ bị tước QT Việt Nam (hoặc bị hủy quyết định cho nhập QT) → Quốc tịch của con chưa thành niên không thay đổi.

Lưu ý về độ tuổi: Mọi sự thay đổi quốc tịch của người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi đều phải được sự đồng ý bằng văn bản của người đó.

2. Quốc tịch của con nuôi (chưa thành niên):

- Trẻ em là CDVN được người nước ngoài nhận làm con nuôi → Vẫn giữ quốc tịch Việt Nam
- Trẻ em là người nước ngoài được CDVN nhận làm con nuôi → Có quốc tịch Việt Nam (kể từ ngày được công nhận). 
- Trẻ em là người nước ngoài được cha mẹ nuôi (một người là CDVN, người kia là người nước ngoài) nhận nuôi → Được nhập QT Việt Nam (theo đơn, không cần các điều kiện ở mục 4.3.2.3).

4.3.2.7. Thẩm quyền và thủ tục giải quyết các vấn đề về quốc tịch

Luật 1998 dành hẳn Chương V quy định cụ thể, chi tiết hơn Luật 1988.

Phân cấp thẩm quyền:

- Quốc hội: Ban hành luật, giám sát tối cao, phê chuẩn/bãi bỏ điều ước quốc tế về quốc tịch. 
- Chủ tịch nước: Quyết định cho nhập, cho trở lại, cho thôi, tước quốc tịch; hủy bỏ quyết định cho nhập quốc tịch. 
- Chính phủ: Thống nhất quản lí nhà nước về quốc tịch. 
- Bộ Tư pháp: Giúp Chính phủ thực hiện chức năng quản lí nhà nước. 
- UBND tỉnh, TP trực thuộc TWCơ quan đại diện (ngoại giao, lãnh sự) ở nước ngoài: Tiếp nhận, xem xét hồ sơ và đề nghị giải quyết.

Thủ tục giải quyết (cải cách):

- Quy định rõ địa chỉ nộp đơn (trong nước nộp ở UBND tỉnh; nước ngoài nộp ở Cơ quan đại diện). 
- Quy định rõ thời hạn giải quyết (VD: tối đa 12 tháng cho đơn xin nhập, 6 tháng cho đơn xin thôi/trở lại) để nâng cao trách nhiệm và giúp dân giám sát. 
- Quy định đăng Công báo các quyết định của Chủ tịch nước về quốc tịch.

4.3.3. Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008

4.3.3.1. Sự cần thiết sửa đổi Luật quốc tịch Việt Nam năm 1998

Luật 1998 có nhiều hạn chế, bất cập cần sửa đổi:

1. Nguyên tắc một quốc tịch triệt để (Điều 3) không khả thi trên thực tế: 
- Rất nhiều CDVN (đặc biệt là kiều bào) đã nhập quốc tịch các nước thừa nhận đa quốc tịch (Pháp, Mỹ, Canada...) và vẫn giữ QT Việt Nam (vì các nước này không bắt thôi QT gốc). 
- Luật 1998 không có quy định "đương nhiên mất quốc tịch Việt Nam khi nhập quốc tịch nước ngoài". 
- Xung đột pháp luật phổ biến (VD: trẻ em sinh ở Mỹ - có QT Mỹ theo nơi sinh, có cha mẹ VN - có QT Việt Nam theo huyết thống). 
- Nguyên tắc triệt để này ảnh hưởng đến chính sách đại đoàn kết dân tộc (theo Nghị quyết 36-NQ/TW).

2. Chưa có quy định giải quyết quốc tịch cho những người không quốc tịch (di cư tự do từ Lào, Campuchia...) đã cư trú ổn định, lâu năm tại Việt Nam.

3. Thủ tục hành chính còn rườm rà, phức tạp, kéo dài (VD: thời hạn giải quyết đơn xin nhập QT 12 tháng là quá dài; Giấy xác nhận người gốc Việt Nam chỉ có giá trị 3 năm là bất hợp lý).

4. Chưa có chính sách rõ ràng để giải quyết xung đột pháp luật khi công dân Việt Nam có hai hay nhiều quốc tịch.

4.3.3.2. Nội dung cơ bản và những điểm mới của Luật quốc tịch năm 2008

1. Nguyên tắc một quốc tịch MỀM DẺO:

- Đây là điểm mới quan trọng nhất. Điều 4 Luật 2008 quy định: "Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam công nhận công dân Việt Nam có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam, trừ trường hợp Luật này có quy định khác". 
- Luật 2008 thừa nhận thực trạng một số công dân có hai hoặc nhiều quốc tịch. 
- Bổ sung Điều 12 (mới): Quy định về giải quyết vấn đề phát sinh khi CDVN đồng thời có quốc tịch nước ngoài → ưu tiên giải quyết theo Điều ước quốc tế, nếu chưa có thì theo tập quán và thông lệ quốc tế (thường là nguyên tắc "quốc tịch hữu hiệu" - tức quốc tịch của nước mà người đó cư trú, gắn bó nhất).

2. Chính sách cho người không quốc tịch (Điều 22):

- Bổ sung quy định cho phép người không quốc tịch (không đủ giấy tờ) nhưng đã cư trú ổn định trên lãnh thổ Việt Nam từ 20 năm trở lên (tính đến ngày luật có hiệu lực) và tuân thủ pháp luật VN thì được nhập quốc tịch Việt Nam theo trình tự đặc biệt.

3. Cải cách thủ tục hành chính:

- Luật hóa nhiều quy định về thủ tục (trước đây nằm ở Nghị định) vào thẳng Luật 2008 (VD: quy định về hồ sơ xin nhập, xin thôi QT). 
- Rút ngắn đáng kể thời gian giải quyết thủ tục (VD: thời gian giải quyết hồ sơ nhập QT tại cấp tỉnh giảm từ 4 tháng xuống còn 55 ngày).

4. Quy định "Giữ quốc tịch Việt Nam" (Khoản 2 Điều 13):

- Người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà chưa mất QT Việt Nam (trước ngày luật 2008 có hiệu lực) thì vẫn còn quốc tịch Việt Nam. 
- Những người này phải đăng kí với cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài trong thời hạn 5 năm để giữ quốc tịch Việt Nam.

5. Kế thừa: Luật 2008 vẫn tiếp tục kết hợp nhuần nhuyễn hai nguyên tắc Huyết thống (Jus Sanguinis) và Lãnh thổ (Jus Soli) trong việc xác định quốc tịch trẻ em.

Phân tích nâng cao: Sự thay đổi nguyên tắc một quốc tịch trong pháp luật Việt Nam

Văn bảnTên nguyên tắcQuy định cốt lõiHệ quả / Thực tiễn
Luật 1988Một quốc tịch (chung chung)Khẳng định nguyên tắc nhưng các quy định chưa chặt chẽ.Vẫn tồn tại tình trạng hai quốc tịch do lịch sử và do quy định chưa nhất quán.
Luật 1998Một quốc tịch (Triệt để)"Nhà nước... công nhận công dân Việt Nam có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam" (Điều 3).
- Nhập QT VN phải thôi QT nước ngoài (trừ T/H đặc biệt).
Không phù hợp thực tiễn (nhiều kiều bào vẫn có 2 QT), không có cơ chế xử lý, ảnh hưởng chính sách đại đoàn kết.
Luật 2008Một quốc tịch (Mềm dẻo)"...công nhận... một quốc tịch... trừ trường hợp Luật này có quy định khác" (Điều 4).Thừa nhận thực tế đa quốc tịch, bổ sung quy định giải quyết xung đột (Điều 12), và quy định "đăng ký giữ QT" (Điều 13.2).
Luật 2014Một quốc tịch (Mềm dẻo - Tạo điều kiện)Sửa đổi Điều 13.2 (Luật 2008): Việc không đăng ký không phải là căn cứ xác định bị mất QT.Khẳng định rõ ràng việc còn QT của kiều bào, tạo điều kiện thuận lợi tối đa, bỏ quy định "5 năm" gây hiểu nhầm.

4.3.4. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2014

Luật 2014 được ban hành chủ yếu để sửa đổi, bổ sung Khoản 2 Điều 13 của Luật 2008 (về vấn đề "đăng ký giữ quốc tịch").

Quy định "phải đăng ký trong 5 năm" của Luật 2008 đã gây ra hiểu nhầm rằng nếu không đăng ký sẽ bị mất quốc tịch. Luật 2014 sửa đổi để làm rõ vấn đề này:

- Người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà chưa mất QT Việt Nam (cho đến trước ngày 26/6/2014) thì vẫn còn quốc tịch Việt Nam
- Người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà không có giấy tờ chứng minh QT Việt Nam thì đăng kí với cơ quan đại diện để được xác định có QT và cấp hộ chiếu (đây là thủ tục hành chính, không phải điều kiện). 
- Điểm quan trọng nhất: Việc người Việt Nam định cư ở nước ngoài (chưa mất QT) mà không đăng kí (theo quy định của Luật 2008) không phải là căn cứ để xác định họ bị mất quốc tịch Việt Nam.

Quy định này tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài giữ quốc tịch, khẳng định họ là bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam.

Mục lục
4.1. Quốc tịch
4.1.1. Khái niệm
4.1.2. Cơ sở cho sự ra đời và tồn tại của quốc tịch
4.1.3. Quốc tịch với vấn đề quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân
4.2. Một số vấn đề cơ bản trong nội dung pháp luật về quốc tịch trên thế giới
4.2.1. Đường lối chính trị - pháp lý trong pháp luật về quốc tịch của các nước trên thế giới
4.2.2. Nguyên tắc xác định quốc tịch nguyên thủy (quốc tịch gốc)
4.2.3. Về nguyên tắc một chiều hay nhiều quốc tịch
4.2.4. Vấn đề thay đổi quốc tịch
4.3. Những vấn đề cơ bản trong pháp luật Quốc tịch Việt Nam
4.3.1. Sự hình thành và phát triển của pháp luật Quốc tịch Việt Nam
4.3.2. Các nội dung cơ bản của Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1998
4.3.3. Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008
4.3.4. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2014
Khoá học liên quan
Kiến thức tương tự