Tóm tắt kiến thức chương 4 Luật chứng khoán - Đại học Vinh

Tóm tắt kiến thức trọng tâm chương 4 môn Luật Chứng khoán theo chương trình Đại học Vinh. Nội dung đầy đủ về tổ chức và hoạt động của thị trường giao dịch chứng khoán, so sánh SGDCK-TTGDCK, nguyên tắc hoạt động, niêm yết, giao dịch và công bố thông tin, hỗ trợ ôn thi hiệu quả.

tóm tắt luật chứng khoánluật chứng khoán chương 4thị trường giao dịch chứng khoánso sánh SGDCK và TTGDCKniêm yết chứng khoánôn thi luật chứng khoántài liệu luật chứng khoánĐại học Vinhsinh viên luật

 

1. CÁC HÌNH THỨC TỔ CHỨC THỊ TRƯỜG GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN

Tại Việt Nam, thị trường giao dịch chứng khoán chỉ được tổ chức bởi Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK) và Trung tâm giao dịch chứng khoán (TTGDCK). Các tổ chức, cá nhân khác không được phép tổ chức thị trường. Quy định này xuất phát từ bản chất rủi ro cao của chứng khoán và để bảo vệ nền kinh tế.

1. Tổ chức giao dịch chứng khoán tại sở giao dịch chứng khoán

1.1. Cách thức tổ chức giao dịch tại sở giao dịch chứng khoán

Đây là hình thức thị trường giao dịch chứng khoán tập trung, có các đặc điểm cơ bản:

- Địa điểm giao dịch và lệnh giao dịch được tập trung tại một đầu mối là SGDCK.
- Đối tượng giao dịch là các chứng khoán có chất lượng tốt, đã được niêm yết.
- Cơ quan tổ chức, giám sát là SGDCK, một pháp nhân hoạt động theo mô hình công ty TNHH hoặc công ty cổ phần. Hiện tại, SGDCK TP. Hồ Chí Minh là công ty TNHH một thành viên 100% vốn nhà nước, phù hợp với giai đoạn đầu phát triển thị trường cần sự quản lý chặt chẽ.

Thành viên giao dịch là các công ty chứng khoán, đóng vai trò trung gian "kết nối" lợi ích của các nhà đầu tư. Các công ty này phải được SGDCK chấp thuận làm thành viên và phải đáp ứng các điều kiện về nhân lực, kỹ thuật do SGDCK quy định.

Cách thức giao dịch: Nhà đầu tư không đặt lệnh trực tiếp vào SGDCK mà phải thông qua công ty chứng khoán thành viên. Công ty chứng khoán sẽ chuyển lệnh vào hệ thống của SGDCK, nơi các lệnh mua và bán phù hợp sẽ được khớp với nhau để xác định giá.

Lưu ý cho sinh viên: Cần phân biệt rõ "thành viên giao dịch" theo Luật Chứng khoán 2006 và "công ty chứng khoán thành viên" trong các mô hình SGDCK do thành viên sở hữu trên thế giới. Ở Việt Nam, công ty chứng khoán chỉ là chủ thể tham gia thị trường, sử dụng dịch vụ do SGDCK cung cấp, chứ không phải là chủ sở hữu của SGDCK.

1.2. Đối tượng giao dịch của sở giao dịch chứng khoán

Đối tượng giao dịch là các chứng khoán đáp ứng đầy đủ điều kiện niêm yết, thường là của các công ty uy tín, có tiềm lực tài chính mạnh. Dưới đây là các điều kiện niêm yết chính:

+ Đối với Cổ phiếu:
- Vốn điều lệ đã góp từ 80 tỷ VNĐ trở lên.
- Kinh doanh có lãi trong 02 năm liền trước, không có lỗ luỹ kế.
- Không có nợ quá hạn chưa được dự phòng.
- Tối thiểu 20% cổ phiếu có quyền biểu quyết do ít nhất 100 cổ đông (không phải cổ đông lớn) nắm giữ.
- Cổ đông nội bộ (HĐQT, BKS, BGĐ...) phải cam kết nắm giữ 100% cổ phiếu trong 6 tháng đầu và 50% trong 6 tháng tiếp theo.

+ Đối với Trái phiếu doanh nghiệp:
- Vốn điều lệ đã góp từ 80 tỷ VNĐ trở lên.
- Kinh doanh có lãi trong 02 năm liền trước, không có nợ phải trả quá hạn trên 01 năm.
- Có ít nhất 100 người sở hữu trái phiếu.

+ Đối với Chứng chỉ quỹ đại chúng / Cổ phiếu công ty đầu tư chứng khoán:
- Tổng giá trị chứng chỉ quỹ phát hành (theo mệnh giá) hoặc vốn điều lệ đã góp từ 50 tỷ VNĐ trở lên.
- Có ít nhất 100 người sở hữu.
- Sáng lập viên và thành viên quản lý phải có cam kết nắm giữ tương tự như đối với cổ phiếu.

2. Tổ chức giao dịch chứng khoán tại trung tâm giao dịch chứng khoán

2.1. Cách thức tổ chức giao dịch tại trung tâm giao dịch chứng khoán

Về mặt pháp lý, mô hình này còn khá mờ nhạt và thiếu nhất quán. Ban đầu TTGDCK được xem là thị trường phi tập trung (OTC) nhưng sau này lại được xếp vào thị trường tập trung. Về bản chất, đây là nơi giao dịch cho chứng khoán của các tổ chức phát hành không đủ điều kiện niêm yết tại SGDCK.

Điểm khác biệt cơ bản nhất so với SGDCK là phương thức giao dịch. TTGDCK tổ chức giao dịch dựa trên phương thức thoả thuận, đây vốn là phương thức điển hình của thị trường phi tập trung.

2.2. Đối tượng giao dịch của trung tâm giao dịch chứng khoán

Các chứng khoán giao dịch tại TTGDCK có tiêu chuẩn và chất lượng thấp hơn so với tại SGDCK.

+ Đối với Cổ phiếu:
- Vốn điều lệ đã góp từ 10 tỷ VNĐ trở lên.
- Hoạt động kinh doanh của năm liền trước phải có lãi.
- Có ít nhất 100 cổ đông nắm giữ cổ phiếu có quyền biểu quyết.
- Cổ đông nội bộ có cam kết nắm giữ tương tự SGDCK.

+ Đối với Trái phiếu doanh nghiệp:
- Vốn điều lệ đã góp từ 10 tỷ VNĐ trở lên.
- Các trái phiếu của một đợt phát hành phải có cùng ngày đáo hạn.

Phân tích tổng hợp: So sánh SGDCK và TTGDCK

Tiêu chíSở Giao dịch Chứng khoán (SGDCK)Trung tâm Giao dịch Chứng khoán (TTGDCK)
Bản chất thị trườngThị trường tập trung cấp caoThị trường tập trung cấp thấp hơn (mang đặc điểm của thị trường OTC)
Chất lượng hàng hóaChứng khoán chất lượng cao, của công ty lớn, uy tínChứng khoán chất lượng thấp hơn, của công ty vừa và nhỏ
Điều kiện vốn (Cổ phiếu)Tối thiểu 80 tỷ VNĐTối thiểu 10 tỷ VNĐ
Điều kiện lợi nhuận (Cổ phiếu)Có lãi 02 năm liên tiếp trước đóCó lãi 01 năm liền trước đó
Phương thức giao dịch chínhKhớp lệnh tập trungThỏa thuận


 

II. HOẠT ĐỘNG CỦA THỊ TRƯỜNG GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN

1. Các nguyên tắc hoạt động của thị trường giao dịch chứng khoán

1.1. Nguyên tắc công khai và minh bạch

Đây là nguyên tắc cốt lõi. Giá trị chứng khoán được hình thành dựa trên thông tin, do đó thị trường sẽ không thể hoạt động nếu thiếu thông tin. Pháp luật phải đảm bảo các chủ thể có cơ hội như nhau khi tiếp cận thông tin, đồng thời quy định rõ ai có nghĩa vụ công bố, công bố thông tin gì, khi nào và bằng cách nào.

1.2. Nguyên tắc giao dịch qua trung gian

Mọi giao dịch của nhà đầu tư đều phải thực hiện thông qua các tổ chức trung gian (chủ yếu là công ty chứng khoán). Lý do là để giảm chi phí giao dịch (nhờ quy mô) và tăng cường tính an toàn, khách quan cho giao dịch.

1.3. Nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng và đối xử công bằng

Giao dịch chứng khoán là hợp đồng dân sự, do đó phải dựa trên sự tự nguyện, không bị ép buộc, lừa dối. Nguyên tắc bình đẳng và công bằng đảm bảo các nhà đầu tư trong cùng điều kiện sẽ có cơ hội ngang nhau (ví dụ: lệnh cùng mức giá thì lệnh đặt trước sẽ được ưu tiên thực hiện).

1.4. Nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các nhà đầu tư

Đây là nguyên tắc trọng tâm vì nhà đầu tư cá nhân (nhà đầu tư phổ thông) thường ở thế yếu do hạn chế về thông tin, vốn và tính chuyên nghiệp. Các biện pháp bảo vệ bao gồm:

- Cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác.
- Đặt ra các điều kiện chặt chẽ cho các tổ chức kinh doanh chứng khoán.
- Thiết lập cơ chế giám sát thị trường hiệu quả.

2. Các hoạt động cơ bản của thị trường giao dịch chứng khoán

Bảng 1: Sơ đồ vận hành thị trường giao dịch chứng khoán (Góc độ hoạt động)

Nguồn phát sinhChuẩn bịHoạt động trung tâmHoàn tất
- Tổ chức phát hành
- Chủ sở hữu chứng khoán
- Cung cấp thông tin về chứng khoán
- Gửi, lưu ký chứng khoán
Giao dịch (Mua/Bán) chứng khoánBù trừ và thanh toán chứng khoán


 

Bảng 2: Sơ đồ vận hành thị trường giao dịch chứng khoán (Góc độ chủ thể)

Khách hàng (Nhà đầu tư)Tổ chức trung gianTổ chức vận hành thị trường
- Khách hàng lưu ký chứng khoán
- Khách hàng thực hiện lệnh giao dịch
Công ty chứng khoán- Trung tâm Lưu ký Chứng khoán
- Sở Giao dịch / Trung tâm Giao dịch Chứng khoán


 

2.1. Đăng ký giao dịch chứng khoán và lưu ký chứng khoán

Đăng ký chứng khoán: Là việc tổ chức phát hành cung cấp các thông tin về chứng khoán và danh sách chủ sở hữu cho Trung tâm Lưu ký Chứng khoán (TTLKCK) để TTLKCK ghi nhận quyền sở hữu và thay mặt tổ chức phát hành thực hiện các quyền cho cổ đông (trả cổ tức, gửi thông báo họp...).

Lưu ký chứng khoán: Là việc nhận ký gửi, bảo quản, chuyển giao chứng khoán cho khách hàng. Nhà đầu tư mở tài khoản lưu ký tại một công ty chứng khoán (thành viên lưu ký), sau đó thành viên lưu ký sẽ tái lưu ký số chứng khoán đó tại TTLKCK.

2.2. Niêm yết chứng khoán

Là việc đưa các chứng khoán có đủ điều kiện vào giao dịch tại SGDCK hoặc TTGDCK. Các vấn đề pháp lý chính:

- Điều kiện niêm yết: Gồm 3 nhóm: (1) Điều kiện về chất lượng chứng khoán (vốn, tình hình tài chính...), (2) Điều kiện về thủ tục (phải có nghị quyết của ĐHĐCĐ, phải hoàn tất đăng ký và lưu ký), và (3) Phải được SGDCK/TTGDCK chấp thuận.

- Thay đổi đăng ký niêm yết: Phải làm thủ tục khi có thay đổi về số lượng chứng khoán niêm yết (do tách/gộp cổ phiếu, phát hành thêm, sáp nhập...).

- Hủy bỏ niêm yết: Xảy ra khi tổ chức niêm yết không còn đáp ứng điều kiện niêm yết, ngừng kinh doanh, kinh doanh thua lỗ 3 năm liên tiếp, không có giao dịch trong 12 tháng, sáp nhập, giải thể, phá sản... Hậu quả là chứng khoán không được giao dịch trên thị trường có tổ chức nữa.

2.3. Giao dịch chứng khoán

Phương thức giao dịch:
- Phương thức khớp lệnh tập trung: Lệnh được khớp trực tiếp trên hệ thống của SGDCK. Gồm khớp lệnh định kỳ (gom lệnh trong một khoảng thời gian để xác định một mức giá) và khớp lệnh liên tục (khớp ngay khi có lệnh đối ứng phù hợp).
- Phương thức thỏa thuận: Các thành viên tự thoả thuận với nhau về các điều kiện giao dịch rồi nhập vào hệ thống để xác nhận.

Lưu ý pháp lý cho nhà đầu tư:
- Mỗi nhà đầu tư chỉ được mở một tài khoản giao dịch chứng khoán. (Lưu ý: Quy định này hiện vẫn còn gây tranh cãi về tính hợp lý).
- Phải có đủ 100% tiền hoặc chứng khoán trước khi đặt lệnh mua hoặc bán.
- Không được đồng thời mua và bán cùng một loại chứng khoán trong một phiên giao dịch (nhằm hạn chế tạo cung-cầu giả tạo).
- Thời điểm chuyển giao quyền sở hữu tiền và chứng khoán diễn ra sau một khoảng thời gian nhất định, gọi là chu kỳ thanh toán (ví dụ T+3). Nhà đầu tư chỉ có thể định đoạt (bán) chứng khoán sau khi nó đã về tài khoản của mình.

2.4. Bù trừ và thanh toán chứng khoán

Đây là nghiệp vụ đối chiếu giữa số lượng tiền, chứng khoán phải thu và phải trả giữa TTLKCK và các thành viên lưu ký (công ty chứng khoán). TTLKCK thực hiện thanh toán dựa trên kết quả giao dịch do SGDCK/TTGDCK cung cấp.

2.5. Công bố thông tin trên thị trường chứng khoán

Hoạt động này nhằm đảm bảo tính minh bạch. Các chủ thể có nghĩa vụ công bố thông tin bao gồm tổ chức phát hành, công ty đại chúng, công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, SGDCK/TTGDCK...

Các loại thông tin cần công bố:
- Thông tin định kỳ: Báo cáo tài chính quý, báo cáo tài chính năm đã được kiểm toán.
- Thông tin bất thường: Các thông tin ảnh hưởng lớn tới hoạt động kinh doanh, tài sản hoặc tư cách pháp lý của công ty. Phải công bố trong vòng 24 giờ đối với các sự kiện đặc biệt quan trọng (tài khoản bị phong tỏa, tạm ngừng kinh doanh, có quyết định khởi tố lãnh đạo...) hoặc 72 giờ đối với các sự kiện khác (quyết định vay vốn lớn, thay đổi chiến lược...).
- Thông tin theo yêu cầu: Phải công bố khi có yêu cầu từ Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, thường là để xác nhận các tin đồn hoặc các thông tin ảnh hưởng lớn đến giá chứng khoán.

Mục lục
1. CÁC HÌNH THỨC TỔ CHỨC THỊ TRƯỜG GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN
1. Tổ chức giao dịch chứng khoán tại sở giao dịch chứng khoán
2. Tổ chức giao dịch chứng khoán tại trung tâm giao dịch chứng khoán
II. HOẠT ĐỘNG CỦA THỊ TRƯỜNG GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN
1. Các nguyên tắc hoạt động của thị trường giao dịch chứng khoán
2. Các hoạt động cơ bản của thị trường giao dịch chứng khoán
Khoá học liên quan
Kiến thức tương tự