- Kinh tế Chính trị Mác Lênin
- Giáo trình chung
- Đã kiểm duyệt
Tóm tắt kiến thức chương 1 - Kinh tế chính trị Mác - Lênin
Ôn tập chương 1 Kinh tế chính trị Mác - Lênin: lịch sử các trường phái, đối tượng, mục đích, phương pháp nghiên cứu và bốn chức năng của môn học, kèm hỏi đáp.
- Kinh tế chính trị Mác – Lênin kế thừa trường phái cổ điển Anh và phát triển thành lý luận khoa học, cách mạng.
- Đối tượng nghiên cứu là quan hệ của sản xuất và trao đổi trong phương thức sản xuất, không phải kỹ thuật sản xuất.
- Mục đích cao nhất là phát hiện quy luật kinh tế, làm cơ sở cho chính sách kinh tế đúng đắn.
- Kinh tế chính trị không làm thí nghiệm được, nên dựa chủ yếu vào trừu tượng hóa khoa học.
- Môn học có bốn chức năng; chức năng phương pháp luận làm nền cho các môn kinh tế chuyên ngành.
I. Sự hình thành và phát triển của kinh tế chính trị Mác – Lênin
Kinh tế chính trị là kết quả của quá trình không ngừng hoàn thiện. Mỗi lý thuyết mới kế thừa tiền đề lý luận cũ và tổng kết thực tiễn của thời đại mình.
Nhiều trường phái lý luận kinh tế ra đời, vì mỗi giai đoạn lịch sử có trình độ sản xuất xã hội riêng. Kinh tế chính trị Mác – Lênin cũng phát triển theo lôgíc lịch sử đó.
1. Thời cổ đại đến thế kỷ XVIII
Lý luận kinh tế chuyên biệt chỉ ra đời khi nền sản xuất đủ phát triển.
- Trước TK XVCổ đại, trung đại
Sản xuất lạc hậu → tư tưởng kinh tế nằm rải rác trong tác phẩm triết học, luận lý.
- Thế kỷ XVTư bản chủ nghĩa hình thành
Phương thức sản xuất tư bản thay thế phong kiến ở Tây Âu → tiền đề cho lý luận kinh tế chính trị.
- Năm 1615Thuật ngữ xuất hiện
Antoine de Montchrétien (Pháp) viết Chuyên luận về kinh tế chính trị → phác thảo ban đầu của môn học.
- Thế kỷ XVIIITrở thành môn học
Hệ thống lý luận của Adam Smith (Anh) → kinh tế chính trị có phạm trù chuyên ngành riêng.
Phương thức sản xuất tư bản là mốc quyết định, vì sản xuất hàng hóa mở rộng cần được lý giải bằng lý luận.
Đề thường hỏi ai dùng thuật ngữ đầu tiên và ai đưa kinh tế chính trị thành môn học. Lỗi hay gặp là chọn Adam Smith cho câu thứ nhất.
Adam Smith là người đầu tiên dùng thuật ngữ kinh tế chính trị.
Montchrétien dùng thuật ngữ từ năm 1615; Adam Smith đưa kinh tế chính trị thành môn học ở thế kỷ XVIII.
2. Sau thế kỷ XVIII đến nay
Sau Adam Smith, lý luận kinh tế chính trị phân hóa theo đối tượng phân tích.
- Phân nhánh lý luận: một dòng đi vào hành vi, tâm lý; một dòng phân tích quan hệ sản xuất.
- Hệ thống Mác – Lênin: dựa trên nền tảng cổ điển Anh → lý luận khoa học về phương thức sản xuất tư bản và quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Hệ thống Mác – Lênin là lý luận cách mạng, vì chỉ ra chủ nghĩa tư bản chỉ là một nấc lịch sử, sẽ được thay thế.
3. Các trường phái lý luận tiêu biểu
Trường phái sau khắc phục hạn chế của trường phái trước, nên lĩnh vực nghiên cứu mở rộng dần qua từng giai đoạn.
- Lưu thông (trọng thương)
- Sản xuất nông nghiệp (trọng nông)
- Tái sản xuất (cổ điển Anh)
- Quan hệ sản xuất (C. Mác)
a) Chủ nghĩa trọng thương
Chủ nghĩa trọng thương tồn tại từ giữa thế kỷ XV đến giữa thế kỷ XVII ở Tây Âu, khi tư bản thương nghiệp thống trị.
- Đại biểu: W. Stafford, T. Mun, G. Scaruffi, A. Serra, A. Montchrétien.
- Nội dung: nghiên cứu lĩnh vực lưu thông → khái quát mục đích tìm kiếm lợi nhuận.
- Hạn chế: cho rằng lợi nhuận sinh ra từ thương nghiệp nhờ mua rẻ, bán đắt.
Quan điểm "mua rẻ, bán đắt" thiếu khoa học, vì trao đổi chỉ chuyển của cải từ người này sang người khác, không tạo thêm giá trị.
b) Chủ nghĩa trọng nông
Chủ nghĩa trọng nông phát triển ở Pháp từ nửa cuối thế kỷ XVII đến nửa đầu thế kỷ XVIII.
- Đại biểu: P. Boisguillebert, F. Quesnay, J. Turgot.
- Bước tiến: chuyển đối tượng nghiên cứu từ lưu thông sang sản xuất.
- Thành tựu: luận giải giá trị, sản phẩm ròng, tư bản, tiền lương, lợi nhuận, tái sản xuất.
- Hạn chế: chỉ coi nông nghiệp là sản xuất → lạc hậu khi công nghiệp phát triển.
Ví dụ: theo trọng nông, một xưởng dệt chỉ biến đổi hình dạng sợi, không tạo sản phẩm ròng. Quan niệm đó không giải thích được của cải tăng nhanh trong công nghiệp.
c) Kinh tế chính trị cổ điển Anh
Kinh tế chính trị cổ điển Anh phát triển từ cuối thế kỷ XVII đến nửa đầu thế kỷ XIX.
- Đại biểu: William Petty, Adam Smith, David Ricardo.
- Nội dung: nghiên cứu quan hệ kinh tế trong quá trình tái sản xuất → rút ra các quy luật kinh tế.
- Phạm trù: phân công lao động, hàng hóa, giá trị, tiền lương, lợi nhuận, địa tô.
Đóng góp lớn nhất của trường phái cổ điển Anh: giá trị do hao phí lao động tạo ra, và giá trị khác với của cải.
Đề thường hỏi trường phái nào đầu tiên khẳng định lao động tạo ra giá trị. Đáp án là cổ điển Anh, không phải trọng nông.
Sau A. Smith, hai dòng lý thuyết tách ra theo cách tiếp cận đối tượng.
- Dòng hành vi, vi mô, vĩ mô
Dựa trên quan sát tâm lý, hành vi → lý thuyết người tiêu dùng, người sản xuất, đại lượng vĩ mô; không đi sâu quan hệ xã hội.
- Dòng quan hệ xã hội
Kế thừa D. Ricardo, phân tích sâu quan hệ xã hội trong sản xuất → C. Mác phát triển thành lý luận về phương thức sản xuất tư bản.
d) C. Mác và Ph. Ăngghen
C. Mác và Ph. Ăngghen xây dựng hệ thống kinh tế chính trị khoa học, cách mạng, thể hiện tập trung trong bộ Tư bản.
- Phạm trù kinh tế thị trường: trình bày khoa học hàng hóa, tiền tệ, giá trị thặng dư, tích lũy.
- Tính hai mặt của lao động: bước nhảy vọt về lý luận → tiền đề cho học thuyết giá trị thặng dư.
- Vai trò lịch sử của tư bản chủ nghĩa: luận chứng khoa học → nền tảng tư tưởng cho giai cấp công nhân.
Nhờ tách được hai mặt của lao động, C. Mác chỉ ra nguồn gốc giá trị thặng dư nằm trong sản xuất, không nằm trong lưu thông.
e) V.I. Lênin và các thế hệ sau
V.I. Lênin kế thừa, bổ sung, phát triển kinh tế chính trị theo phương pháp luận của C. Mác.
- Giai đoạn độc quyền: chỉ ra đặc điểm kinh tế của độc quyền, độc quyền nhà nước (cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX).
- Thời kỳ quá độ: nghiên cứu vấn đề kinh tế chính trị trên con đường lên chủ nghĩa xã hội.
- Tên gọi: hệ thống được định danh là kinh tế chính trị Mác – Lênin.
- Hiện nay: các đảng cộng sản, nhà kinh tế mácxít tiếp tục nghiên cứu, phát triển.
Tên gọi có thêm chữ Lênin, vì V.I. Lênin phát triển lý luận cho giai đoạn độc quyền mà C. Mác chưa chứng kiến đầy đủ.
II. Đối tượng, mục đích và phương pháp nghiên cứu
Kinh tế chính trị Mác – Lênin nghiên cứu quan hệ xã hội trong sản xuất và trao đổi. Môn học tìm ra quy luật kinh tế, chủ yếu bằng phương pháp trừu tượng hóa khoa học.
1. Đối tượng nghiên cứu
C. Mác và Ph. Ăngghen xác định đối tượng bằng cách tiếp cận duy vật lịch sử, có kế thừa giá trị lý luận của nhân loại.
- Đối tượng nghiên cứu
- Các quan hệ của sản xuất và trao đổi trong phương thức sản xuất mà các quan hệ đó hình thành và phát triển.
Định nghĩa có nghĩa hẹp và nghĩa rộng, khác nhau ở phạm vi lịch sử được xét.
- Nghĩa hẹp (C. Mác)
Quan hệ sản xuất, trao đổi trong một phương thức sản xuất nhất định. Ví dụ: bộ Tư bản chỉ xét phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.
- Nghĩa rộng (Ph. Ăngghen)
Quy luật chi phối sản xuất, trao đổi trong xã hội loài người qua nhiều giai đoạn lịch sử.
Kinh tế chính trị không thay thế các môn kỹ thuật, vì đối tượng của môn là quan hệ xã hội chứ không phải công nghệ.
- Bản chất: quan hệ giữa người với người trong chỉnh thể sản xuất – lưu thông – phân phối – tiêu dùng.
- Mối liên hệ biện chứng: luôn đặt trong tác động qua lại với lực lượng sản xuất và kiến trúc thượng tầng.
- Biểu hiện: quan hệ sở hữu, quản lý, phân bổ nguồn lực, lưu thông, tiêu dùng, quản trị phát triển quốc gia.
Ví dụ: cách vận hành máy dệt là việc của kỹ thuật. Ai sở hữu máy và sản phẩm chia thế nào mới là đối tượng của kinh tế chính trị.
2. Mục đích nghiên cứu
Mục đích cao nhất: phát hiện quy luật kinh tế chi phối quan hệ giữa người với người trong sản xuất, trao đổi.
Nhận thức đúng quy luật giúp giải quyết hài hòa quan hệ lợi ích → tạo động lực sáng tạo, thúc đẩy văn minh xã hội.
a) Quy luật kinh tế
Quy luật kinh tế là mối liên hệ bản chất, khách quan, lặp đi lặp lại giữa các hiện tượng kinh tế.
- Khách quan: tồn tại không phụ thuộc ý chí con người.
- Không thủ tiêu được: con người chỉ nhận thức và vận dụng.
- Cơ chế tác động: điều chỉnh hành vi con người qua động cơ lợi ích.
Ví dụ: giá một mặt hàng tăng cao thì nhiều người đổ vốn sản xuất mặt hàng đó, vì lợi ích thúc đẩy hành vi.
b) Chính sách kinh tế
Chính sách kinh tế là sản phẩm chủ quan, do con người xây dựng trên cơ sở vận dụng quy luật kinh tế.
- Phù hợp quy luật: thúc đẩy kinh tế phát triển.
- Trái quy luật: kìm hãm phát triển → cần ban hành chính sách mới thay thế.
Quy luật kinh tế và chính sách kinh tế đều khách quan như nhau.
Quy luật khách quan, không thủ tiêu được; chính sách chủ quan, sai thì thay bằng chính sách khác.
Đề thường cho một tình huống, hỏi đó là quy luật hay chính sách. Thứ ban hành, bãi bỏ được là chính sách.
3. Phương pháp nghiên cứu
a) Phép biện chứng duy vật
Phép biện chứng duy vật là phương pháp chung của kinh tế chính trị Mác – Lênin.
- Vận động: hiện tượng kinh tế luôn hình thành, phát triển, chuyển hóa không ngừng.
- Liên hệ: các hiện tượng tác động qua lại biện chứng với nhau.
Ví dụ: tiền lương không xét tách rời mà đặt trong liên hệ với năng suất lao động.
b) Trừu tượng hóa khoa học
Trừu tượng hóa khoa học là phương pháp chủ yếu, vì kinh tế chính trị không thể nghiên cứu trong phòng thí nghiệm như khoa học tự nhiên.
- Gạt bỏ yếu tố ngẫu nhiên, tạm thời
- Giữ dấu hiệu điển hình, bền vững
- Nắm bản chất hiện tượng
- Khái quát thành phạm trù
- Phát hiện quy luật
Khó nhất là xác định đúng giới hạn trừu tượng, vì bỏ sai yếu tố sẽ làm sai lệch bản chất.
Không được loại bỏ yếu tố bản chất, cũng không giữ lại hiện tượng tạm thời. Ví dụ: nghiên cứu quan hệ lao động được bỏ qua tình cảm cá nhân, nhưng không bỏ qua lợi ích kinh tế.
c) Các phương pháp hiện đại, liên ngành
Kinh tế chính trị còn dùng nhiều phương pháp hiện đại, liên ngành để bổ trợ cho trừu tượng hóa.
- Lôgíc và lịch sử: lý luận đi theo trình tự phát triển của hiện thực.
- Thống kê so sánh: đo lường, đối chiếu số liệu giữa các nền kinh tế.
- Phân tích tổng hợp: tách hiện tượng thành bộ phận rồi ghép lại thành chỉnh thể.
- Quy nạp diễn dịch: đi từ cái riêng đến cái chung và ngược lại.
- Mô hình hóa: biểu diễn quan hệ kinh tế bằng mô hình.
- Khảo sát thực tiễn: kiểm chứng lý luận bằng dữ liệu thực tế.
Phép biện chứng duy vật là phương pháp chung, trừu tượng hóa khoa học là phương pháp chủ yếu; các phương pháp hiện đại chỉ bổ trợ.
Đề hay đặt hai phương pháp đầu cạnh nhau để gây nhiễu. Từ khóa chủ yếu luôn ứng với trừu tượng hóa khoa học.
III. Chức năng của kinh tế chính trị Mác – Lênin
Kinh tế chính trị Mác – Lênin có bốn chức năng, gắn với nhau từ hiểu biết đến hành động. Nhận thức đúng quy luật là điều kiện để thực hiện các chức năng còn lại.
1. Chức năng nhận thức
Chức năng nhận thức cung cấp tri thức để nhìn xuyên qua bề mặt hỗn độn của đời sống kinh tế.
- Tri thức lý luận: sự vận động của quan hệ sản xuất và trao đổi.
- Tri thức mở về quy luật: lịch sử phát triển, nhất là phương thức tư bản chủ nghĩa và quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
- Phạm trù kinh tế cơ bản: làm phong phú tư duy lý luận → nhận thức tầng sâu bản chất xã hội.
Ví dụ: giá một mặt hàng lên xuống hằng ngày. Tri thức về giá trị cho biết giá luôn xoay quanh một trục bản chất.
Chức năng nhận thức chỉ cung cấp tri thức về chủ nghĩa tư bản.
Tri thức bao quát quan hệ sản xuất, trao đổi nói chung; chủ nghĩa tư bản và thời kỳ quá độ là trọng điểm.
2. Chức năng thực tiễn
Chức năng thực tiễn biến tri thức thành năng lực hành động trong đời sống kinh tế.
- Kỹ năng vận dụng: áp dụng quy luật kinh tế vào lao động, sản xuất, quản trị quốc gia.
- Cải tạo thực tiễn: điều chỉnh hành vi, chính sách → kinh tế phát triển tiến bộ.
- Hài hòa lợi ích: tạo động lực sáng tạo → cải thiện đời sống vật chất, tinh thần.
Chức năng thực tiễn trả lời câu hỏi "dùng tri thức để làm gì": điều chỉnh hành vi và chính sách cho đúng quy luật.
Ví dụ: một doanh nghiệp hiểu quy luật cung cầu sẽ điều chỉnh sản lượng trước khi giá giảm, thay vì chịu lỗ.
3. Chức năng tư tưởng
Chức năng tư tưởng hình thành thế giới quan, thái độ đúng đắn cho người lao động tiến bộ.
- Quý trọng lao động: trân trọng thành quả lao động, yêu chuộng tự do, hòa bình.
- Niềm tin: phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
- Giải phóng con người: hướng tới xóa bỏ áp bức, bất công.
Chức năng tư tưởng gắn với lợi ích giai cấp công nhân, vì học thuyết của C. Mác là nền tảng tư tưởng của giai cấp đó.
Ví dụ: hiểu rằng giá trị do lao động tạo ra, người học trân trọng công sức của người lao động làm ra sản phẩm.
4. Chức năng phương pháp luận
Kinh tế chính trị là nền tảng lý luận để hiểu sâu nội hàm các môn khoa học kinh tế chuyên ngành.
Lý thuyết tiền tệ giải thích được các chức năng của tiền. Câu hỏi đặt ra: vì sao tiền có các chức năng khách quan đó?
Xem phân tích
Lý thuyết tiền tệ chỉ mô tả tiền làm được gì. Cội nguồn bản chất của tiền phải dựa vào phương pháp luận của kinh tế chính trị Mác – Lênin.
Kinh tế chính trị giải thích bản chất; môn chuyên ngành giải thích biểu hiện và cách vận hành.
Đề trắc nghiệm hay cho một nhận định rồi hỏi nhận định đó thuộc chức năng nào. Từ khóa trong nhận định là dấu hiệu nhận biết nhanh.
| Chức năng | Câu hỏi trả lời | Từ khóa thường gặp |
|---|---|---|
| Nhận thức | Bản chất, quy luật là gì | Tri thức, phạm trù, tư duy lý luận |
| Thực tiễn | Vận dụng tri thức ra sao | Kỹ năng, chính sách, cải tạo thực tiễn |
| Tư tưởng | Tin vào điều gì, phấn đấu vì ai | Niềm tin, lý tưởng, giải phóng con người |
| Phương pháp luận | Hiểu môn khác từ gốc nào | Nền tảng lý luận, môn chuyên ngành |
Chương 2 của học phần Kinh tế chính trị Mác – Lênin giải thích bản chất tiền từ sự phát triển của các hình thái giá trị.
Ôn tập nhanh
- Montchrétien dùng thuật ngữ năm 1615; Adam Smith biến kinh tế chính trị thành môn học độc lập.
- Trọng thương xét lưu thông, trọng nông xét nông nghiệp, cổ điển Anh phát hiện lao động tạo ra giá trị.
- C. Mác phát hiện tính hai mặt của lao động → nền cho học thuyết giá trị thặng dư.
- Đối tượng: quan hệ xã hội của sản xuất, trao đổi, xét trong liên hệ với lực lượng sản xuất, kiến trúc thượng tầng.
- Quy luật kinh tế chỉ nhận thức, vận dụng được; chính sách do con người ban hành và thay thế được.
- Trừu tượng hóa khoa học: gạt cái ngẫu nhiên, giữ cái điển hình → nắm bản chất, quy luật.
- Bốn chức năng: nhận thức, thực tiễn, tư tưởng, phương pháp luận.
Hỏi và đáp
Ai dùng thuật ngữ kinh tế chính trị đầu tiên, vào năm nào?
Antoine de Montchrétien, năm 1615, trong Chuyên luận về kinh tế chính trị.
Quan điểm về lợi nhuận của chủ nghĩa trọng thương sai ở đâu?
Gắn lợi nhuận với mua rẻ, bán đắt trong lưu thông → bỏ qua giá trị tạo ra trong sản xuất.
Đối tượng nghiên cứu theo nghĩa hẹp và nghĩa rộng khác nhau thế nào?
Nghĩa hẹp: một phương thức sản xuất cụ thể; nghĩa rộng: quy luật sản xuất, trao đổi qua nhiều thời kỳ lịch sử.
Vì sao trừu tượng hóa khoa học là phương pháp chủ yếu?
Hiện tượng kinh tế không tái tạo được trong phòng thí nghiệm → dùng tư duy gạt cái ngẫu nhiên để tìm bản chất.
Chức năng phương pháp luận thể hiện ra sao qua ví dụ về tiền?
Lý thuyết tiền tệ nêu chức năng của tiền; kinh tế chính trị lý giải cội nguồn bản chất của tiền.
Ôn xong rồi? Kiểm tra ngay
Trắc nghiệm chương 1 - Kinh tế chính trị Mác - Lênin





