Tóm tắt chương 1 - Lý luận chung Nhà nước và Pháp luật
Tóm tắt đầy đủ kiến thức trọng tâm Chương 1 môn Lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật. Nội dung bao gồm các học thuyết về nguồn gốc nhà nước (Mác-Lênin, Thần học, Khế ước...), phân tích bản chất (tính giai cấp, tính xã hội), 5 đặc trưng cơ bản và các chức năng (đối nội, đối ngoại) của nhà nước. Tài liệu ôn tập súc tích, dễ hiểu cho sinh viên luật.
Lý luận Nhà nước và Pháp luậtTóm tắt Chương 1Nguồn gốc Nhà nướcBản chất Nhà nướcĐặc trưng Nhà nướcChức năng Nhà nướcHọc thuyết Nguồn gốc Nhà nướcQuan điểm Mác-LêninÔn tập Nhà nước và Pháp luậtSinh viên Luật
1.1. Nguồn gốc của nhà nước
Nhà nước và pháp luật là hạt nhân của thượng tầng kiến trúc, có quan hệ mật thiết. Nhà nước ban hành pháp luật, pháp luật là công cụ quản lý của nhà nước. Để hiểu pháp luật, phải hiểu nhà nước. Nhận thức đúng về nguồn gốc nhà nước giúp nhận thức đúng về bản chất và vai trò của nó.
1.1.1. Quan điểm phi mác-xít về nguồn gốc nhà nước
Bao gồm nhiều học thuyết khác nhau, tiêu biểu:
- Thuyết thần học: Cho rằng nhà nước do Thượng đế sáng tạo ra để bảo vệ trật tự xã hội. Quyền lực nhà nước là siêu nhiên, vĩnh cửu và tất yếu. Thuyết này mang tính duy tâm, thần bí, ra đời thời phong kiến nhằm duy trì sự phục tùng tuyệt đối của quần chúng.
- Thuyết gia trưởng: Coi nhà nước là kết quả phát triển của gia đình. Quyền lực nhà nước được đồng nhất với quyền gia trưởng, là sự kế tiếp của quyền lực người đứng đầu gia đình. Thuyết này đồng nhất nhà nước và gia đình, nhằm bảo vệ chế độ quân chủ chuyên chế.
- Thuyết bạo lực: Cho rằng nhà nước ra đời từ việc thị tộc này sử dụng bạo lực với thị tộc khác. Thị tộc chiến thắng lập ra nhà nước để nô dịch kẻ chiến bại. Thuyết này lý giải máy móc, ủng hộ tư tưởng dùng bạo lực giải quyết mâu thuẫn.
- Thuyết khế ước xã hội: Cho rằng nhà nước là sản phẩm của một "khế ước" (hợp đồng) giữa những người sống trong trạng thái tự nhiên. Nhà nước phản ánh lợi ích chung. Nếu nhà nước vi phạm khế ước, nhân dân có quyền lật đổ. Đây là học thuyết tiến bộ (cơ sở cho cách mạng tư sản) nhưng vẫn duy tâm, không thấy cội nguồn vật chất và bản chất giai cấp của nhà nước.
- Các thuyết khác: Thuyết tâm lý (nhu cầu phụ thuộc thủ lĩnh), Thuyết siêu trái đất (du nhập từ nền văn minh khác)...
Tổng kết: Các quan điểm phi Mác-xít hoặc do hạn chế lịch sử, hoặc do lợi ích giai cấp nên không giải thích đúng nguyên nhân thực sự. Họ thường tách nhà nước khỏi điều kiện vật chất, coi nhà nước là vĩnh cửu, của mọi người, không mang tính giai cấp.
Bảng so sánh nhanh các học thuyết phi Mác-xít
| Học thuyết | Nguyên nhân ra đời Nhà nước | Bản chất quyền lực | Mục đích/Cơ sở |
|---|---|---|---|
| Thần học | Do Thượng đế sáng tạo | Siêu nhiên, vĩnh cửu | Bảo vệ trật tự của Thượng đế (Thực chất: bảo vệ chế độ phong kiến) |
| Gia trưởng | Sự phát triển của gia đình | Như quyền gia trưởng | Bảo vệ chế độ quân chủ chuyên chế |
| Bạo lực | Kết quả của chiến tranh, bạo lực | Sự áp đặt của kẻ mạnh | Ủng hộ việc dùng bạo lực để thống trị |
| Khế ước xã hội | Sự thỏa thuận (hợp đồng) của các thành viên | Do nhân dân giao phó | Phản ánh lợi ích chung (Cơ sở tư tưởng cho cách mạng tư sản) |
1.1.2. Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về nguồn gốc nhà nước
Dựa trên chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, quan điểm Mác-Lênin giải thích khoa học về nguồn gốc nhà nước, khắc phục hạn chế của các thuyết phi Mác-xít. Nguồn gốc nhà nước được tìm hiểu qua việc nghiên cứu xã hội cộng sản nguyên thuỷ (CSNT).
1.1.3. Chế độ cộng sản nguyên thuỷ và tổ chức thị tộc, bộ lạc.
- Cơ sở kinh tế: Dựa trên chế độ sở hữu chung về tư liệu sản xuất và sản phẩm lao động. Lực lượng sản xuất thấp kém, công cụ thô sơ, năng suất lao động thấp, không có của cải dư thừa. Mọi người bình đẳng trong lao động và hưởng thụ (nguyên tắc bình quân), không có tư hữu, không có giai cấp.
- Hình thức tổ chức xã hội và quyền lực xã hội:
+ Tế bào cơ sở là Thị tộc (tổ chức theo huyết thống).
+ Quyền lực xã hội (không phải quyền lực nhà nước) thuộc về Hội đồng thị tộc (gồm các thành viên lớn tuổi, uy tín). Quyền lực này dựa trên sự bàn bạc dân chủ, quyết định tập thể, phục vụ lợi ích chung.
+ Người đứng đầu (Tù trưởng, thủ lĩnh quân sự) được bầu ra, dựa vào uy tín cá nhân, không có đặc quyền và có thể bị bãi miễn.
+ Công cụ điều chỉnh là các quy tắc xã hội (tập quán, tín điều tôn giáo), thực hiện tự nguyện hoặc bằng cưỡng chế của cộng đồng (chưa có bộ máy cưỡng chế riêng).
+ Sau thị tộc là Bào tộc, Bộ lạc và Liên minh bộ lạc.
LƯU Ý: Cần phân biệt rõ Quyền lực xã hội (thời CSNT) và Quyền lực nhà nước. Quyền lực xã hội hòa nhập với dân cư, do cộng đồng thực hiện, phục vụ lợi ích chung. Quyền lực nhà nước (công cộng đặc biệt) tách khỏi dân cư, do một bộ máy chuyên nghiệp thực hiện, mang tính giai cấp.
1.1.4. Sự tan rã của chế độ cộng sản nguyên thuỷ và sự xuất hiện nhà nước
Nguyên nhân sâu xa: Sự phát triển của lực lượng sản xuất, dẫn đến 3 lần phân công lao động xã hội:
- Lần 1: Chăn nuôi tách khỏi trồng trọt.
+ Hệ quả: Năng suất tăng, xuất hiện sản phẩm dư thừa. Tù trưởng, thủ lĩnh quân sự chiếm đoạt của chung thành tài sản riêng (tư hữu). Nhu cầu lao động tăng -> Tù binh chiến tranh không bị giết mà trở thành nô lệ. Gia đình cá thể hình thành, đe dọa chế độ thị tộc.
- Lần 2: Thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp.
+ Do tìm ra kim loại (sắt).
+ Hệ quả: Sản xuất phát triển mạnh, lao động chuyên môn hóa. Nô lệ trở thành lực lượng lao động chính. Sự phân hóa giàu – nghèo ngày càng sâu sắc.
- Lần 3: Thương nghiệp xuất hiện.
+ Do nhu cầu trao đổi sản phẩm. Xuất hiện tầng lớp thương nhân, không sản xuất nhưng chi phối sản xuất. Tiền tệ ra đời, kéo theo nạn cho vay nặng lãi, tích trữ...
+ Hệ quả: Xã hội phân chia thành 2 giai cấp cơ bản, đối kháng: Chủ nô và Nô lệ. Mâu thuẫn giai cấp trở nên gay gắt, không thể điều hòa.
Kết luận:
Tổ chức thị tộc (dựa trên sở hữu chung, không có giai cấp) đã bất lực trước xã hội mới (tư hữu, giai cấp đối kháng). Xã hội cần một tổ chức mới, có khả năng "dập tắt" các xung đột công khai, duy trì trật tự trong "vòng trật tự" có lợi cho giai cấp thống trị. Tổ chức đó là Nhà nước.
Như vậy, theo Mác-Lênin:
1. Nhà nước không phải hiện tượng vĩnh cửu, mà chỉ ra đời khi xã hội phát triển đến một giai đoạn nhất định.
2. Nhà nước là sản phẩm của xã hội có giai cấp.
3. Nguyên nhân trực tiếp (tiền đề) ra đời nhà nước là:
+ Tiền đề kinh tế: Xuất hiện chế độ tư hữu.
+ Tiền đề xã hội: Xã hội phân hóa thành các giai cấp đối kháng, mâu thuẫn không thể điều hòa.
(Ngoài ra, một số nhà nước phương Đông còn có nguyên nhân đặc thù như nhu cầu trị thủy, chống ngoại xâm).
1.2. Bản chất của nhà nước
Bản chất nhà nước là sự thống nhất của hai thuộc tính: Tính giai cấp và Tính xã hội.
1.2.1. Tính giai cấp của nhà nước.
Trả lời câu hỏi: Nhà nước là của ai, vì ai?
Theo Mác-Lênin, nhà nước trước hết là bộ máy trấn áp đặc biệt của giai cấp này đối với giai cấp khác, là công cụ duy trì sự thống trị giai cấp. Nhà nước là sản phẩm của mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa.
Tính giai cấp thể hiện ở chỗ nhà nước là công cụ để giai cấp thống trị (giai cấp nắm quyền lực kinh tế) bảo vệ lợi ích của mình và áp đặt sự thống trị trên 3 mặt:
- Về kinh tế: Bảo vệ địa vị kinh tế, quan hệ sản xuất (chế độ sở hữu) của giai cấp thống trị.
- Về chính trị: Dùng bộ máy cưỡng chế (quân đội, cảnh sát...) để trấn áp sự phản kháng của giai cấp bị trị.
- Về tư tưởng: Xây dựng hệ tư tưởng của giai cấp thống trị thành hệ tư tưởng thống trị xã hội.
Mức độ thể hiện tính giai cấp khác nhau ở các kiểu nhà nước:
+ Nhà nước chủ nô, phong kiến, tư sản: Là nhà nước của thiểu số bóc lột thống trị đa số bị bóc lột. Tính giai cấp thể hiện rõ nét.
+ Nhà nước XHCN: Là nhà nước của đa số (nhân dân lao động) thống trị thiểu số (phản cách mạng). Tính giai cấp mờ nhạt hơn, là "nhà nước nửa nhà nước" vì còn làm nhiệm vụ xây dựng xã hội mới.
1.2.2. Tính xã hội của nhà nước.
Trả lời câu hỏi: Nhà nước làm gì cho xã hội?
Nhà nước là tổ chức quyền lực công cộng, đại diện chung cho toàn xã hội. Do đó, nhà nước phải thực hiện các chức năng phục vụ lợi ích chung, giải quyết các vấn đề xã hội (vai trò xã hội).
Tính xã hội thể hiện qua việc nhà nước:
- Quản lý các vấn đề chung: Xây dựng công trình phúc lợi (đường sá, bệnh viện...), bảo vệ môi trường, phòng chống thiên tai, dịch bệnh...
- Đảm bảo trật tự, ổn định xã hội, trấn áp tội phạm.
- Bảo vệ các giá trị chung (văn hóa, đạo đức).
- Quản lý kinh tế vĩ mô, thiết lập quan hệ đối ngoại.
Tính xã hội là thuộc tính khách quan. Nhà nước nào (kể cả nhà nước bóc lột) cũng phải thực hiện vai trò xã hội ở mức độ nhất định thì mới tồn tại được. Tuy nhiên, trong nhà nước XHCN, tính xã hội thể hiện rõ nét và thống nhất với tính giai cấp (vì lợi ích giai cấp cầm quyền cơ bản phù hợp lợi ích chung).
LƯU Ý QUAN TRỌNG: Bản chất nhà nước là sự thống nhất của 2 mặt: Giai cấp và Xã hội. Đây là hai mặt không tách rời, bổ sung cho nhau. Sẽ là sai lầm và phiến diện nếu chỉ nhấn mạnh một chiều tính giai cấp (quan điểm cũ) mà bỏ qua tính xã hội, hoặc ngược lại (quan điểm phương Tây hiện nay).
Định nghĩa chung về nhà nước:
Nhà nước là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, một bộ máy chuyên làm nhiệm vụ cưỡng chế và thực hiện các chức năng quản lý đặc biệt nhằm duy trì trật tự xã hội, thực hiện mục đích bảo vệ trước hết địa vị của giai cấp thống trị trong xã hội.
1.3. Đặc trưng của nhà nước.
Nhà nước có 5 đặc trưng cơ bản để phân biệt với tổ chức thị tộc (CSNT) và các tổ chức xã hội khác:
1.3.1. Nhà nước thiết lập quyền lực công cộng đặc biệt không còn hoà nhập với dân cư.
Đây là quyền lực chính trị, thuộc về giai cấp thống trị. Quyền lực này được thực hiện bởi một lớp người đặc biệt (quan chức) và một bộ máy chuyên làm nhiệm vụ cưỡng chế (quân đội, cảnh sát, nhà tù, tòa án). Quyền lực này tách rời xã hội và đứng trên xã hội.
1.3.2. Nhà nước có lãnh thổ riêng, phân chia và quản lý dân cư theo các đơn vị hành chính - lãnh thổ.
Nhà nước quản lý dân cư theo "lãnh thổ" (tỉnh, huyện, xã...), chứ không theo "huyết thống" như thị tộc. Biên giới quốc gia là giới hạn quyền lực của nhà nước.
1.3.3. Nhà nước có chủ quyền quốc gia.
Đây là thuộc tính chính trị-pháp lý then chốt. Chủ quyền là quyền tối cao và độc lập của nhà nước.
- Đối nội: Quyền lực tối cao, quyết định mọi vấn đề trong nước (lập pháp, hành pháp, tư pháp).
- Đối ngoại: Độc lập trong quan hệ quốc tế, không bị can thiệp.
LƯU Ý: Chủ quyền đối ngoại không phải là sự tuyệt đối. Trong quan hệ quốc tế, chủ quyền quốc gia bị ràng buộc bởi 3 yếu tố: (1) Chủ quyền của quốc gia khác; (2) Các cam kết quốc tế (điều ước) đã tham gia; (3) Quyền con người (theo chuẩn mực quốc tế).
1.3.4. Nhà nước ban hành pháp luật và thực hiện sự quản lý bắt buộc đối với công dân.
Nhà nước là tổ chức duy nhất có quyền ban hành pháp luật – hệ thống quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung, áp dụng cho toàn xã hội. Pháp luật là công cụ quản lý hữu hiệu của nhà nước.
1.3.5. Nhà nước quy định và thực hiện việc thu các loại thuế dưới hình thức bắt buộc.
Nhà nước là tổ chức duy nhất có quyền thu thuế. Thuế là nguồn thu chính để nuôi dưỡng bộ máy nhà nước và thực hiện các chức năng xã hội.
1.4. Chức năng của nhà nước.
1.4.1. Khái niệm.
- Nhiệm vụ nhà nước: Là mục tiêu, vấn đề nhà nước cần giải quyết (mang tính chiến lược hoặc cụ thể, trước mắt).
- Chức năng nhà nước: Là những phương diện (mặt) hoạt động chủ yếu của nhà nước nhằm thực hiện các nhiệm vụ đặt ra. Chức năng là công cụ thực hiện nhiệm vụ.
Mối quan hệ: Một nhiệm vụ có thể cần nhiều chức năng thực hiện; ngược lại, một chức năng có thể phục vụ nhiều nhiệm vụ.
Lưu ý:
+ Chức năng nhà nước xuất phát từ bản chất và cơ sở kinh tế - xã hội của nhà nước.
+ Chức năng nhà nước do các cơ quan nhà nước thực hiện.
LƯU Ý (Cần phân biệt):
- Chức năng nhà nước: Là phương diện hoạt động của cả bộ máy nhà nước (ví dụ: chức năng quản lý kinh tế, chức năng bảo vệ trật tự pháp luật).
- Chức năng của cơ quan nhà nước: Là phương diện hoạt động của một cơ quan cụ thể để góp phần thực hiện chức năng chung (ví dụ: trong chức năng bảo vệ trật tự pháp luật, Tòa án có chức năng xét xử, Viện kiểm sát có chức năng công tố và giám sát).
1.4.2. Phân loại chức năng nhà nước.
Cách phân loại phổ biến nhất là căn cứ vào phạm vi tác động:
- Chức năng đối nội: Là hoạt động chủ yếu trong phạm vi lãnh thổ. (Ví dụ: bảo đảm trật tự xã hội, trấn áp tội phạm, bảo vệ chế độ kinh tế, quản lý văn hóa, giáo dục...).
- Chức năng đối ngoại: Là hoạt động trong quan hệ với các nhà nước, dân tộc khác. (Ví dụ: phòng thủ đất nước, chống xâm lược, thiết lập quan hệ hợp tác, hữu nghị...).
Mối quan hệ: Chức năng đối nội và đối ngoại có quan hệ mật thiết.
+ Đối nội là cơ sở, quyết định đối ngoại.
+ Đối ngoại phục vụ cho việc thực hiện đối nội, đồng thời tác động mạnh mẽ trở lại đối nội (ví dụ: hội nhập kinh tế quốc tế tốt sẽ thúc đẩy kinh tế trong nước).
LƯU Ý: Không thể coi chức năng nào (đối nội hay đối ngoại) là quan trọng hơn. Một nhà nước muốn vững mạnh phải thực hiện tốt đồng thời cả hai chức năng.
2.774 xem 12 kiến thức 12 đề thi

3.318 lượt xem 14/04/2026

4.663 lượt xem 11/07/2025

4.160 lượt xem 27/10/2025

7.679 lượt xem 13/04/2026

2.278 lượt xem 11/07/2025

2.811 lượt xem 11/07/2025

20.664 lượt xem 13/02/2026

1.971 lượt xem 11/07/2025

13.221 lượt xem 08/10/2025

