Kiến thức cơ bản Chương 1 - Quản Trị Chất Lượng HCE

Chương 1 cung cấp nền tảng kiến thức cơ bản về kinh tế quốc tế và quản trị kinh doanh quốc tế, giúp người học hiểu rõ khái niệm, vai trò, chủ thể tham gia, các hình thức liên kết kinh tế cũng như xu thế phát triển hiện nay. Nội dung còn trình bày đặc trưng, cơ sở hình thành và vai trò của hoạt động kinh doanh quốc tế, đồng thời nhấn mạnh vai trò quản trị trong bối cảnh toàn cầu hóa. Đây là phần kiến thức nền tảng quan trọng cho sinh viên HCE và người quan tâm đến lĩnh vực quản trị chất lượng.

quản trị chất lượngHCEkinh tế quốc tếkinh doanh quốc tếquản trị kinh doanhFDIFPItoàn cầu hóahội nhập kinh tếthương mại quốc tế

 

1.1. Các vấn đề cơ bản về kinh tế quốc tế

1.1.1. Khái niệm kinh tế quốc tế

Kinh tế quốc tế nghiên cứu các quan hệ kinh tế nảy sinh giữa những chủ thể thuộc các quốc gia khác nhau, thông qua trao đổi hàng hóa – dịch vụ, vận động vốn, lao động, công nghệ… Đến hiện đại, phạm vi của nó mở rộng theo chiều sâu (độ tự do hóa, liên thông) và chiều rộng (nhiều chủ thể tham gia, nhiều lĩnh vực hơn), khiến các nền kinh tế ngày càng gắn kết và phụ thuộc lẫn nhau.

Vai trò cốt lõi: tham gia kinh tế quốc tế giúp một quốc gia tái cơ cấu theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa; phân bổ lại nguồn lực hiệu quả; thu hút vốn, nhân lực chất lượng cao và công nghệ; mở đầu vào – đầu ra ổn định cho doanh nghiệp trong nước; tạo điều kiện hình thành các tập đoàn đủ sức cạnh tranh và hội nhập.

1.1.2. Vai trò của kinh tế quốc tế

Từ góc độ vĩ mô, kinh tế quốc tế là động lực để kết nối nội lực với ngoại lực, mở cửa giao lưu, tiếp thu công nghệ, nâng năng suất, tăng sức cạnh tranh, đồng thời đặt ra yêu cầu xử lý các hệ lụy như phụ thuộc bên ngoài, chênh lệch giàu nghèo, biến động xã hội – văn hóa, từ đó buộc các quốc gia phải thiết kế “nền kinh tế mở” phù hợp.

1.1.3. Các chủ thể tham gia vào hoạt động kinh tế quốc tế

  • Các quốc gia độc lập: hiện có gần 200 quốc gia độc lập theo Liên Hiệp Quốc; tiêu chí chủ quyền theo Công ước Montevideo (1933) gồm dân số ổn định, lãnh thổ xác định, chính phủ, và khả năng quan hệ với quốc gia khác.

     
  • Chủ thể cấp dưới quốc gia: công ty, tập đoàn, xí nghiệp… tham gia trao đổi – đầu tư xuyên biên giới trên cơ sở hợp đồng trong khuôn khổ các hiệp định giữa các quốc gia.

     
  • Tổ chức quốc tế và liên kết khu vực: Liên Hiệp Quốc và các tổ chức chuyên môn (WB, IMF…), các liên kết khu vực (EU, ASEAN…), hiệp hội ngành hàng. Đây là các thực thể siêu quốc gia có địa vị pháp lý rộng, hoạt động cần điều phối ở tầm liên quốc gia.

     
  • Công ty đa quốc gia (MNC): công ty có sở hữu đa quốc tịch hoặc có trụ sở ở một nước và cơ sở kinh doanh tại nhiều nước (thường trên 6), trên 60% doanh số đến từ hoạt động quốc tế; giữ vai trò lớn trong thương mại, đầu tư và chuyển giao công nghệ.

     

1.1.4. Các hình thức liên kết kinh tế quốc tế

Tiến trình hội nhập thường đi từ mức độ thấp đến cao qua 5 “nấc” sau:

  1. Khu vực mậu dịch tự do (FTA): xóa thuế và rào cản phi thuế giữa thành viên; mỗi nước vẫn tự do đặt chính sách với ngoài khối. AFTA (ASEAN Free Trade Area) là ví dụ điển hình (giảm thuế về 0–5%, loại bỏ rào cản phi thuế theo CEPT từ 1992).

     
  2. Liên minh thuế quan (Customs Union): ngoài việc xóa rào cản nội khối, các nước thiết lập biểu thuế chung đối với bên ngoài. EEC giai đoạn đầu là ví dụ.

     
  3. Thị trường chung (Common Market): cao hơn liên minh thuế quan; cho phép tự do di chuyển vốn và lao động trong khối.

     
  4. Liên minh tiền tệ (Monetary Union): thống nhất giao dịch tiền tệ, đồng tiền dự trữ và có thể phát hành đồng tiền chung; EU sau Hiệp ước Maastricht – hình thành EMU và đồng euro – là ví dụ rõ nét.

     
  5. Liên minh kinh tế (Economic Union): mức hội nhập rất cao: tự do hóa sâu rộng các yếu tố, hài hòa chính sách kinh tế – tài chính – tiền tệ, có thể thiết lập thể chế siêu quốc gia (Ủy ban, Nghị viện, Tòa án, Ngân hàng Trung ương của khối).

     

1.1.5. Xu thế phát triển của kinh tế quốc tế hiện nay

Ba dòng chảy chủ đạo:

  • Chuyển dịch từ kinh tế vật chất sang kinh tế tri thức: cơ sở vật chất – kỹ thuật truyền thống bộc lộ giới hạn; tri thức, công nghệ cao, đổi mới sáng tạo trở thành yếu tố quyết định năng suất và cạnh tranh.

     
  • Xu thế mở cửa, khu vực hóa: các quốc gia mở rộng giao lưu, phân công lao động quốc tế; đồng thời phải quản trị rủi ro phụ thuộc bên ngoài và mất cân đối cơ cấu, bảo đảm kết hợp hài hòa nội lực – ngoại lực.

     
  • Toàn cầu hóa và gia tăng hợp tác song phương/đa phương: thị trường và sản xuất mang tính toàn cầu; song kèm theo rủi ro và chênh lệch lợi ích, đòi hỏi trách nhiệm chia sẻ giữa các nước phát triển và đang phát triển; các hiệp định/ tổ chức quốc tế là động lực thúc đẩy hội nhập.

     

 

 

1.2. Tổng quan về quản trị kinh doanh quốc tế

1.2.1. Kinh doanh quốc tế (International Business – IB)

1.2.1.1. Khái niệm

Kinh doanh quốc tế là hoạt động kinh doanh diễn ra vượt qua biên giới quốc gia, bao gồm thương mại hàng hóa – dịch vụ, đầu tư, chuyển giao công nghệ, hợp tác… với mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận và/hoặc các mục tiêu kinh tế – xã hội khác.

1.2.1.2. Cơ sở hình thành hoạt động kinh doanh quốc tế

Hoạt động này nảy sinh do:

  • Chênh lệch về nguồn lực (vốn, lao động, tài nguyên) và trình độ công nghệ giữa quốc gia;

     
  • Khác biệt về nhu cầu và sức mua;

     
  • Mục tiêu khai thác lợi thế so sánh, tối đa hóa hiệu quả;

     
  • Môi trường chính sách – luật pháp tạo điều kiện lưu chuyển hàng hóa, vốn, lao động. (Khái quát từ phần mở đầu 1.2 và nội dung 1.1.5 về động lực hội nhập).

     

1.2.1.3. Đặc trưng của kinh doanh quốc tế

  • Nhiều chủ thể, đa văn hóa – pháp lý: khác biệt về ngôn ngữ, văn hóa, pháp luật, tập quán, điều kiện tự nhiên – xã hội làm cho giao dịch phức tạp hơn nội địa; các bên phải có tư cách pháp nhân phù hợp, hợp đồng thường cấu trúc chặt chẽ theo điều khoản quốc tế.

     
  • Vượt biên giới tiền tệ: phải lựa chọn đồng tiền tính giá – thanh toán; khi hai đồng tiền khác nhau thì rủi ro tỷ giá là vấn đề cần đặc biệt lưu ý.

     
  • Mục tiêu mở rộng lợi nhuận nhờ thị trường lớn hơn: doanh nghiệp có điều kiện gia tăng doanh số khi vươn ra thị trường thế giới, điều khó đạt được nếu chỉ kinh doanh trong nước.

     

1.2.1.4. Các hình thức kinh doanh quốc tế

  1. Thương mại quốc tế: trao đổi hàng hóa – dịch vụ giữa các quốc gia, lấy tiền tệ làm trung gian, tuân nguyên tắc ngang giá vì lợi ích các bên. Bao gồm: xuất–nhập khẩu hàng hóa hữu hình và vô hình; gia công quốc tế; tái xuất và chuyển khẩu; xuất khẩu tại chỗ. Thương mại quốc tế ra đời sớm nhất và vẫn giữ vị trí trung tâm trong quan hệ kinh tế quốc tế.

     
  2. Đầu tư quốc tế: di chuyển vốn (và các giá trị) từ nước này sang nước khác để tiến hành sản xuất – kinh doanh, nhằm lợi nhuận hoặc mục tiêu kinh tế – xã hội. Chủ đầu tư có thể là chính phủ, tổ chức quốc tế, doanh nghiệp, cá nhân; phương tiện đầu tư có thể là tiền, tài sản hữu hình (máy móc, thiết bị, nguyên liệu, công nghệ…), hay tài sản vô hình (bí quyết, nhãn hiệu, sáng chế…).

     
    • Đầu tư gián tiếp (FPI): mua cổ phiếu/ trái phiếu… thu lợi qua cổ tức/lãi, mức độ kiểm soát thấp, rủi ro phân tán. (Tóm lược từ phần so sánh trong tài liệu).

       
    • Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI): nhà đầu tư mang vốn/tài sản sang nước khác, trực tiếp quản lý – chịu trách nhiệm về kết quả; hiệu quả cao, ít ràng buộc chính trị, không tạo gánh nợ; có thể 100% vốn nước ngoài hoặc góp vốn cùng đối tác; khi nhiều bên cùng sở hữu gọi là liên doanh, một biến thể đặc biệt là hợp doanh (chính phủ hợp tác với tư nhân).

       

Ghi chú: Ngoài hai trụ cột lớn trên, trong thương mại quốc tế còn có các dịch vụ (vận tải, bảo hiểm, tài chính…) vốn cũng được tổ chức bằng các hợp đồng thương mại quốc tế.

1.2.2. Quản trị kinh doanh quốc tế

1.2.2.1. Khái niệm

So với quản trị nội địa, quản trị kinh doanh quốc tế phức tạp hơn vì doanh nghiệp phải đối mặt đồng thời với các yếu tố văn hóa, chính trị, pháp luật, kinh tế và cạnh tranh của nhiều quốc gia/vùng lãnh thổ; tuy nhiên, về bản chất vẫn dựa trên bốn trụ cột: lập kế hoạch – tổ chức – lãnh đạo – kiểm soát đối với các hoạt động của con người trong tổ chức hoạt động trên phạm vi quốc tế nhằm đạt mục tiêu.

1.2.2.2. Vai trò của quản trị kinh doanh quốc tế

  • Gia tăng doanh số và lợi nhuận: mở rộng thị trường ra toàn cầu giúp tăng số khách hàng và sức mua; nhiều công ty lớn thu hơn nửa doanh số ở nước ngoài.

     
  • Tiếp cận nguồn lực nước ngoài để hạ chi phí/ nâng chất lượng: sử dụng đầu vào sản xuất, linh kiện, dịch vụ từ nước ngoài có thể làm tăng doanh thu biên hoặc chuyển lợi ích tiết kiệm chi phí cho khách hàng, qua đó cải thiện chất lượng – khác biệt hóa – thị phần.

     
  • Đa dạng hóa, phân tán rủi ro: khác biệt chu kỳ kinh doanh, mùa vụ, tình trạng kinh tế giữa các nước giúp doanh nghiệp ổn định doanh số và lợi nhuận; đa dạng hóa thương mại – đầu tư ra quốc tế cho phép phân tán rủi ro và khai thác lợi thế so sánh của từng quốc gia.

     
  • Mở rộng phạm vi thị trường, nâng năng lực cạnh tranh: thị trường nội địa có giới hạn; vươn ra nhiều khu vực sẽ khắc phục “độ chật hẹp” về sức mua, đồng thời giúp doanh nghiệp học hỏi công nghệ – quản trị tiên tiến, củng cố vị thế cạnh tranh.
Mục lục
1.1. Các vấn đề cơ bản về kinh tế quốc tế
1.1.1. Khái niệm kinh tế quốc tế
1.1.2. Vai trò của kinh tế quốc tế
1.1.3. Các chủ thể tham gia vào hoạt động kinh tế quốc tế
1.1.4. Các hình thức liên kết kinh tế quốc tế
1.1.5. Xu thế phát triển của kinh tế quốc tế hiện nay
1.2. Tổng quan về quản trị kinh doanh quốc tế
1.2.1. Kinh doanh quốc tế (International Business – IB)
1.2.2. Quản trị kinh doanh quốc tế
Khoá học liên quan
Kiến thức tương tự