Bài Giảng Triết Học Mác Lênin Chương 6 - 2 Nguyên Lý CB BCDV

Bài giảng chi tiết Chương 6 môn Triết học Mác - Lênin theo giáo trình Bộ Giáo dục và Đào tạo, tập trung phân tích hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật: nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển. Nội dung giúp sinh viên hiểu rõ phương pháp luận biện chứng, vận dụng lý thuyết vào thực tiễn và chuẩn bị hiệu quả cho kỳ thi học phần. Bài giảng kèm theo ví dụ minh họa và bài tập thực hành.

Từ khoá: bài giảng triết học bài giảng trực tuyến giáo trình Bộ GD&ĐT hai nguyên lý biện chứng học phần triết học lý luận chính trị phép biện chứng duy vật phương pháp luận biện chứng triết học Mác - Lênin ôn thi triết học

Phụ đề:

[0:00 - 0:10] Chào các bạn, trong buổi chia sẻ hôm nay, mình muốn cùng các bạn tìm hiểu về hai nguyên lý cơ bản và quan trọng của phép biện chứng duy vật. Đây là những nguyên lý cốt lõi, giúp chúng ta nhìn nhận thế giới một cách toàn diện và sâu sắc hơn.
[0:10 - 0:13] Đó là nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển.
[0:14 - 0:21] Federic Angen đã định nghĩa rằng phép biện chứng chẳng qua chỉ là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và sự phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy.
[0:22 - 0:25] Chúng ta sẽ bắt đầu với phần thứ nhất, nguyên lý về mối liên hệ phổ biến.
[0:25 - 0:28] Trước tiên, mình và các bạn sẽ cùng tìm hiểu về khái niệm mối liên hệ.
[0:29 - 0:33] Trong lịch sử triết học, có nhiều quan điểm khác nhau về mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng.
[0:33 - 0:39] Quan điểm siêu hình cho rằng các sự vật, hiện tượng tồn tại biệt lập, tách rời nhau. Chúng không có sự phụ thuộc, không ràng buộc và quy định lẫn nhau.
[0:40 - 0:43] Nếu có sự quy định thì cũng chỉ là bề ngoài, mang tính ngẫu nhiên.
[0:43 - 0:48] Thậm chí, một số người theo quan điểm siêu hình còn cho rằng các hình thức liên hệ khác nhau không có khả năng chuyển hóa lẫn nhau.
[0:48 - 0:54] Ví dụ như giới vô cơ và hữu cơ không liên hệ gì với nhau, hay xã hội chỉ là tổng số đơn giản của những cá nhân riêng lẻ.
[0:55 - 1:02] Trái lại, quan điểm biện chứng khẳng định rằng các sự vật, hiện tượng, các quá trình khác nhau vừa tồn tại độc lập, vừa có quy định, tác động qua lại và chuyển hóa lẫn nhau.
[1:02 - 1:04] Vậy cơ sở nào quy định mối liên hệ này?
[1:04 - 1:11] Chủ nghĩa duy tâm khách quan và chủ nghĩa duy tâm chủ quan cho rằng đó là một lực lượng siêu tự nhiên, ví dụ như trời hoặc ở ý thức và cảm giác của con người.
[1:11 - 1:17] Tuy nhiên, chủ nghĩa duy vật biện chứng lại khẳng định rằng tính thống nhất vật chất của thế giới là cơ sở của mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng.
[1:17 - 1:24] Mặc dù thế giới đa dạng và phong phú nhưng tất cả các sự vật, hiện tượng đều chỉ là những dạng khác nhau của một thế giới duy nhất, thống nhất, đó là thế giới vật chất.
[1:24 - 1:30] Chính nhờ tính thống nhất này mà chúng không thể tồn tại biệt lập mà luôn tác động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau theo những quan hệ xác định.
[1:30 - 1:40] Trên cơ sở đó, triết học duy vật biện chứng định nghĩa phạm chủ liên hệ là khái niệm dùng để chỉ sự quy định, sự tác động qua lại, sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các mặt của một sự vật của một hiện tượng trong thế giới.
[1:41 - 1:43] Tiếp theo là các tính chất cơ bản của mối liên hệ.
[1:43 - 1:47] Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, mối liên hệ có ba tính chất cơ bản.
[1:47 - 1:48] Thứ nhất là tính khách quan.
[1:49 - 1:53] Các mối liên hệ là vốn có của mọi sự vật, hiện tượng và chúng không phụ thuộc vào ý thức của con người.
[1:53 - 1:55] Thứ hai là tính phổ biến.
[1:55 - 2:02] Điều này có nghĩa là bất kỳ một sự vật, hiện tượng nào, ở bất kỳ không gian nào và ở bất kỳ thời gian nào cũng có mối liên hệ với những sự vật, hiện tượng khác.
[2:02 - 2:08] Ngay trong cùng một sự vật, hiện tượng thì bất kỳ một thành phần nào, một yếu tố nào cũng có mối liên hệ với những thành phần, những yếu tố khác.
[2:08 - 2:10] Thứ ba là tính đa dạng, phong phú.
[2:10 - 2:16] Các mối liên hệ biểu hiện khác nhau tùy thuộc vào sự vật khác nhau, hiện tượng khác nhau, không gian khác nhau hay thời gian khác nhau.
[2:16 - 2:23] Chúng ta có thể phân loại mối liên hệ thành nhiều loại như mối liên hệ bên trong, mối liên hệ bên ngoài, mối liên hệ chủ yếu, mối liên hệ thứ yếu và nhiều loại khác nữa.
[2:23 - 2:28] Các mối liên hệ này có vị trí và vai trò khác nhau đối với sự tồn tại và vận động của sự vật, hiện tượng.
[2:28 - 2:35] Mặc dù sự phân loại này chỉ mang tính tương đối nhưng nó rất cần thiết vì mỗi loại mối liên hệ có vai trò xác định, giúp con người tác động phù hợp để đạt hiệu quả cao nhất.
[2:36 - 2:40] Cuối cùng, chúng ta sẽ nói về ý nghĩa phương pháp luận của nguyên lý mối liên hệ phổ biến.
[2:40 - 2:47] Vì các mối liên hệ mang tính khách quan và phổ biến nên trong hoạt động nhận thức và thực tiễn, con người phải tôn trọng quan điểm toàn diện và tránh cách xem xét phiến diện.
[2:47 - 2:59] Quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta phải nhận thức sự vật trong mối liên hệ qua lại giữa các bộ phận, các yếu tố, các mặt của chính sự vật đó, cũng như trong sự tác động qua lại giữa sự vật đó với các sự vật khác, bao gồm cả mối liên hệ trực tiếp và gián tiếp.
[2:59 - 3:07] Đồng thời, chúng ta phải biết phân biệt các mối liên hệ cụ thể như mối liên hệ bên trong, bản chất, chủ yếu, tất yếu và lưu ý sự chuyển hóa giữa chúng để hiểu rõ bản chất và tác động phù hợp.
[3:08 - 3:10] Trong thực tế, cần sử dụng đồng bộ các biện pháp.
[3:10 - 3:20] Ví dụ, để đạt mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, chúng ta cần phát huy nội lực đất nước và đồng thời tranh thủ thời cơ, vượt qua thách thức từ xu hướng quốc tế hóa và toàn cầu hóa kinh tế.
[3:21 - 3:26] Vì các mối liên hệ có tính đa dạng và phong phú, nên chúng ta cần tôn trọng quan điểm lịch sử, cụ thể.
[3:26 - 3:35] Quan điểm lịch sử, cụ thể đòi hỏi khi nhận thức và tác động vào sự vật, chúng ta phải chú ý đến điều kiện, hoàn cảnh lịch sử, cụ thể và môi trường nơi sự vật sinh ra, tồn tại và phát triển.
[3:36 - 3:39] Một luận điểm có thể khoa học trong điều kiện này nhưng lại không phải trong điều kiện khác.
[3:39 - 3:48] Điều này giải thích vì sao Đảng ta luôn phân tích tình hình cụ thể của đất nước và bối cảnh quốc tế để xác định và điều chỉnh đường lối, chủ trương phù hợp với từng giai đoạn cách mạng và thời kỳ xây dựng đất nước.
[3:48 - 3:52] Bây giờ, chúng ta sẽ chuyển sang phần thứ hai, nguyên lý về sự phát triển.
[3:53 - 3:55] Đầu tiên, chúng ta cùng tìm hiểu về khái niệm phát triển.
[3:56 - 4:00] Cũng như mối liên hệ, quan điểm về sự phát triển cũng có sự đối lập giữa quan điểm siêu hình và quan điểm biện chứng.
[4:01 - 4:06] Quan điểm siêu hình xem sự phát triển chỉ là sự tăng lên hay giảm đi đơn thuần về mặt lượng, không có sự thay đổi về chất của sự vật.
[4:06 - 4:12] Hoặc nếu có thay đổi về chất thì sự thay đổi ấy cũng chỉ diễn ra theo một vòng khép kín, không sinh ra cái mới với những chất mới.
[4:12 - 4:17] Họ xem sự phát triển là một quá trình tiến lên liên tục, không có những bước quanh co, thăng trầm hay phức tạp.
[4:17 - 4:21] Ngược lại, quan điểm biện chứng xem xét sự phát triển là một quá trình tiến lên từ thấp đến cao.
[4:21 - 4:26] Quá trình đó diễn ra vừa dần dần, vừa nhảy vọt, dẫn đến sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ.
[4:26 - 4:33] Trong hiện thực khách quan hay trong tư duy, sự phát triển không phải lúc nào cũng theo đường thẳng mà rất quanh co, phức tạp, thậm chí có thể có những bước lùi tạm thời.
[4:34 - 4:44] Theo quan điểm biện chứng, sự phát triển là kết quả của quá trình thay đổi dần dần về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất, là quá trình diễn ra theo đường xoáy ốc và hết mỗi chu kỳ, sự vật lặp lại dường như sự vật ban đầu nhưng ở cấp độ cao hơn.
[4:44 - 4:46] Vậy nguồn gốc của sự phát triển là gì?
[4:47 - 4:52] Quan điểm duy vật biện chứng khẳng định nguồn gốc của sự phát triển nằm trong bản thân sự vật, do mâu thuẫn trong chính sự vật quy định.
[4:52 - 4:56] Quá trình giải quyết liên tục mâu thuẫn trong bản thân sự vật cũng chính là quá trình tự thân phát triển của mọi sự vật.
[4:56 - 5:08] Trên cơ sở khái quát sự phát triển của mọi sự vật, hiện tượng trong hiện thực, quan điểm duy vật biện chứng khẳng định rằng, phát triển là một phạm trù triết học dùng để chỉ quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của sự vật.
[5:08 - 5:16] Phát triển không bao quát toàn bộ sự vận động nói chung mà chỉ khái quát xu hướng chung của sự vận động, xu hướng vận động đi lên của sự vật, nơi sự vật mới ra đời thay thế cho sự vật cũ.
[5:16 - 5:26] Trong quá trình phát triển của mình, sự vật sẽ giật hình thành những quy định mới cao hơn về chất, làm thay đổi mối liên hệ, cơ cấu, phương thức tồn tại, vận động và chức năng vốn có theo chiều hướng ngày càng hoàn thiện hơn.
[5:26 - 5:28] Tiếp theo là các tính chất của sự phát triển.
[5:28 - 5:35] Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, sự phát triển cũng có ba tính chất cơ bản, tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng, phong phú.
[5:35 - 5:37] Sự phát triển bao giờ cũng mang tính khách quan.
[5:38 - 5:44] Nguồn gốc của sự phát triển nằm ngay trong bản thân sự vật, đó là quá trình giải quyết liên tục những mâu thuẫn này sinh trong sự tồn tại và vận động của sự vật.
[5:44 - 5:48] Vì thế, sự phát triển là tiến trình khách quan, không phụ thuộc vào ý thức của con người.
[5:48 - 5:50] Sự phát triển mang tính phổ biến.
[5:50 - 5:57] Tính phổ biến của sự phát triển được hiểu là nó diễn ra ở mọi lĩnh vực, tự nhiên, xã hội và tư duy, ở bất cứ sự vật, hiện tượng nào của thế giới khách quan.
[5:58 - 6:02] Ngay cả các khái niệm, các phạm trù phản ánh hiện thực cũng nằm trong quá trình vận động và phát triển.
[6:02 - 6:04] Sự phát triển còn có tính đa dạng, phong phú.
[6:05 - 6:10] Phát triển là khuynh hướng chung của mọi sự vật, mọi hiện tượng, song mỗi sự vật, mỗi hiện tượng lại có quá trình phát triển không giống nhau.
[6:10 - 6:15] Tồn tại ở không gian khác nhau, ở thời gian khác nhau, sự vật phát triển sẽ khác nhau.
[6:15 - 6:21] Đồng thời, trong quá trình phát triển của mình, sự vật còn chịu sự tác động của các sự vật, hiện tượng khác, của rất nhiều yếu tố, điều kiện.
[6:22 - 6:29] Sự tác động đó có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của sự vật, đôi khi có thể làm thay đổi chiều hướng phát triển của sự vật, thậm chí làm cho sự vật thụt lùi tạm thời.
[6:29 - 6:36] Ví dụ, trẻ em ngày nay phát triển nhanh hơn cả về thể chất lẫn trí tuệ so với các thế hệ trước do được thừa hưởng thành quả và điều kiện thuận lợi từ xã hội.
[6:36 - 6:42] Các quốc gia chậm phát triển và kém phát triển có thể rút ngắn thời gian công nghiệp hóa và hiện đại hóa nhờ kinh nghiệm và hỗ trợ từ các quốc gia đi trước.
[6:42 - 6:47] Tuy nhiên, việc vận dụng và tận dụng sự hỗ trợ đó phụ thuộc rất lớn vào những nhà lãnh đạo và nhân dân của các nước đó.
[6:47 - 6:52] Dù có những giai đoạn vận động lên xuống khác nhau, nhưng nhìn tổng thể, các sự vật vẫn tuân theo khuynh hướng phát triển chung.
[6:53 - 6:55] Cuối cùng là ý nghĩa phương pháp luận của nguyên lý về sự phát triển.
[6:56 - 7:01] Nguyên lý về sự phát triển cho thấy trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn, con người phải tôn trọng quan điểm phát triển.
[7:01 - 7:07] Quan điểm phát triển đòi hỏi khi nhận thức hay giải quyết một vấn đề nào đó, con người phải đặt chúng ở trạng thái động, nằm trong khuynh hướng chung là phát triển.
[7:07 - 7:13] Quan điểm phát triển đòi hỏi không chỉ nắm bắt những cái hiện đang tồn tại ở sự vật mà còn phải thấy rõ khuynh hướng phát triển trong tương lai của chúng.
[7:13 - 7:16] Phải thấy được những biến đổi đi lên cũng như những biến đổi có tính chất thụt lùi tạm thời.
[7:17 - 7:20] Điều cơ bản là phải khái quát những biến đổi để vạch ra khuynh hướng biến đổi chính của sự vật.
[7:20 - 7:25] Xem xét sự vật theo quan điểm phát triển còn phải biết phân chia quá trình phát triển của sự vật ấy thành những giai đoạn.
[7:25 - 7:34] Trên cơ sở đó, chúng ta có thể tìm ra phương pháp nhận thức và cách tác động phù hợp nhằm thúc đẩy sự vật tiến triển nhanh hơn hoặc kìm hãm sự phát triển của nó, tùy theo sự phát triển đó có lợi hay có hại đối với đời sống con người.
[7:34 - 7:39] Quan điểm phát triển góp phần khắc phục tư tưởng bảo thủ, trì trệ, định kiến trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn.
[7:40 - 7:44] Tóm lại, hai nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và sự phát triển là nền tảng của phép biện chứng duy vật.
[7:44 - 7:51] Từ hai nguyên lý này, chúng ta rút ra ba nguyên tắc phương pháp luận quan trọng, quan điểm toàn diện, quan điểm lịch sử, cụ thể và quan điểm phát triển.
[7:51 - 7:57] Đây là những nguyên tắc định hướng, chỉ đạo hoạt động nhận thức và thực tiễn của chúng ta, giúp chúng ta cải tạo hiện thực và cải tạo chính bản thân mình.
[7:58 - 8:03] Để thực hiện được chúng, mỗi người cần nắm chắc cơ sở lý luận của chúng và biết vận dụng chúng một cách sáng tạo trong hoạt động của mình.
[8:04 - 8:06] Cảm ơn các bạn đã lắng nghe buổi chia sẻ hôm nay.
[8:06 - 8:10] Hi vọng những kiến thức này sẽ hữu ích cho các bạn trong việc nhìn nhận và phân tích thế giới xung quanh.
[8:10 - 8:13] Xin chào và hẹn gặp lại trong các chương trình tiếp theo.