Bài giảng Chương 9 Lý Luận Nhận Thức - Triết Học Mác Lênin

Bài giảng ôn tập Chương 9: Lý luận Nhận thức trong Triết học Mác - Lênin, biên soạn theo giáo trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Tài liệu giúp sinh viên hệ thống hóa kiến thức, làm rõ các khái niệm trọng tâm như thực tiễn, nhận thức, chân lý, vai trò của thực tiễn trong nhận thức... Phù hợp để ôn thi và tự học.

Từ khoá: Q&A Triết học chương 9 giáo trình Bộ GD&ĐT lý luận nhận thức triết học Mác - Lênin ôn tập triết học

Phụ đề:

[00:00 - 00:03] Chào các bạn, mình là người đồng hành cùng các bạn trong buổi chia sẻ kiến thức ngày hôm nay.
[00:04 - 00:08] Hôm nay, chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu về một phần rất quan trọng trong triết học, đó là lý luận nhận thức.
[00:09 - 00:13] Phần này sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về cách con người nhận thức thế giới và vai trò của thực tiễn trong quá trình đó.
[00:14 - 00:16] Phần thứ nhất, chúng ta sẽ đi sâu vào bản chất của nhận thức.
[00:17 - 00:20] Trước khi chủ nghĩa Mác ra đời, đã có nhiều quan niệm khác nhau về nhận thức.
[00:20 - 00:24] Chẳng hạn, chủ nghĩa duy tâm chủ quan cho rằng, nhận thức chỉ là sự phức hợp của những cảm giác con người.
[00:25 - 00:32] Trong khi đó, chủ nghĩa duy tâm khách quan lại coi nhận thức là sự hồi tưởng của linh hồn bất tử về thế giới các ý niệm, hoặc là sự tự ý thức về mình của ý niệm tuyệt đối.
[00:32 - 00:39] Khác với hai quan điểm trên, những người theo thuyết hoài nghi lại xem nhận thức là trạng thái hoài nghi về sự vật, biến sự nghi ngờ về tính xác thực của tri thức thành một nguyên tắc.
[00:39 - 00:46] Đến thời cận đại, khuynh hướng này thậm chí còn phủ nhận khả năng nhận thức thế giới của con người hoặc chỉ giới hạn ở cảm giác bề ngoài của sự vật.
[00:46 - 00:53] Đối lập với các quan niệm đó, chủ nghĩa duy vật trước Mác thừa nhận khả năng nhận thức thế giới của con người, coi nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào đầu óc con người.
[00:53 - 01:03] Tuy nhiên, do hạn chế bởi tính trực quan, siêu hình, máy móc, họ đã xem nhận thức là sự phản ánh đơn giản, là bản sao chép nguyên si trạng thái bất động của sự vật và chưa thấy được vai trò của thực tiễn đối với nhận thức.
[01:04 - 01:12] C.Mác đã chỉ ra khuyết điểm chủ yếu của toàn bộ chủ nghĩa duy vật từ trước đến nay là chỉ nhận thức sự vật dưới hình thức khách thể hay trực quan, chứ không nhận thức nó như hoạt động cảm giác của con người, tức là thực tiễn.
[01:13 - 01:16] Sự ra đời của chủ nghĩa duy vật biện chứng đã tạo ra một cuộc cách mạng trong lý luận nhận thức.
[01:17 - 01:19] Học thuyết này được xây dựng dựa trên bốn nguyên tắc cơ bản.
[01:19 - 01:24] Một là, thừa nhận thế giới vật chất tồn tại khách quan, độc lập đối với ý thức của con người.
[01:24 - 01:26] Hai là, thừa nhận khả năng nhận thức được thế giới của con người.
[01:27 - 01:32] Coi nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc con người, là hoạt động tìm hiểu khách thể của chủ thể.
[01:32 - 01:36] Không có gì là không thể nhận thức được, chỉ có cái con người chưa nhận thức được nhưng sẽ nhận thức được.
[01:36 - 01:41] Ba là, khẳng định sự phản ánh đó là một quá trình biện chứng, tích cực, tự giác và sáng tạo.
[01:41 - 01:48] Quá trình này diễn ra theo trình tự từ chưa biết đến biết, từ biết ít đến biết nhiều, đi từ hiện tượng đến bản chất và từ bản chất kém sâu sắc đến bản chất sâu sắc hơn.
[01:48 - 01:55] Bốn là, coi thực tiễn là cơ sở chủ yếu và trực tiếp nhất của nhận thức, là động lực, mục đích của nhận thức và là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý.
[01:55 - 02:03] Dựa trên những nguyên tắc này, chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định: về bản chất, nhận thức là quá trình phản ánh tích cực, tự giác và sáng tạo thế giới khách quan vào bộ óc người trên cơ sở thực tiễn.
[02:04 - 02:08] Phần thứ hai, chúng ta sẽ tìm hiểu về phạm trù thực tiễn và vai trò của nó đối với nhận thức.
[02:08 - 02:12] Thực tiễn là một trong những phạm trù nền tảng, cơ bản của triết học Mác - Lênin.
[02:12 - 02:17] Chủ nghĩa duy tâm chỉ hiểu thực tiễn như là hoạt động tinh thần sáng tạo ra thế giới, chứ không xem nó là hoạt động vật chất.
[02:17 - 02:24] Ngược lại, chủ nghĩa duy vật trước Mác, dù hiểu thực tiễn là hành động vật chất nhưng lại xem đó là hoạt động tầm thường, không có vai trò gì đối với nhận thức.
[02:24 - 02:28] Các Mác và Ăngghen đã khắc phục những sai lầm đó và đưa ra quan niệm đúng đắn, khoa học về thực tiễn.
[02:29 - 02:30] Vậy thực tiễn là gì?
[02:30 - 02:36] Thực tiễn là toàn bộ những hoạt động vật chất có mục đích, mang tính lịch sử, xã hội của con người nhằm cải biến tự nhiên và xã hội.
[02:36 - 02:43] Khác với hoạt động tư duy, hoạt động thực tiễn là hoạt động mà con người sử dụng công cụ vật chất tác động vào đối tượng vật chất để biến đổi chúng theo mục đích của mình.
[02:43 - 02:50] Thực tiễn biểu hiện rất đa dạng với nhiều hình thức phong phú, song có ba hình thức cơ bản là hoạt động sản xuất vật chất, hoạt động chính trị - xã hội và hoạt động thực nghiệm khoa học.
[02:50 - 02:58] Hoạt động sản xuất vật chất là hình thức hoạt động cơ bản, đầu tiên của thực tiễn, tạo ra của cải và điều kiện thiết yếu để duy trì sự tồn tại và phát triển của con người và xã hội.
[02:58 - 03:04] Hoạt động chính trị - xã hội là hoạt động của các tổ chức cộng đồng nhằm cải biến các mối quan hệ xã hội để thúc đẩy xã hội phát triển.
[03:04 - 03:11] Thực nghiệm khoa học là một hình thức đặc biệt của thực tiễn, được tiến hành trong những điều kiện do con người tạo ra để xác định các quy luật biến đổi và phát triển của đối tượng nghiên cứu.
[03:11 - 03:15] Dạng hoạt động này ngày càng có vai trò quan trọng, đặc biệt trong thời kỳ cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại.
[03:16 - 03:21] Mỗi hình thức có chức năng quan trọng khác nhau, không thể thay thế được cho nhau, song chúng có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau.
[03:22 - 03:26] Trong đó, hoạt động sản xuất vật chất là cơ bản nhất, đóng vai trò quyết định đối với các hoạt động khác.
[03:26 - 03:30] Các hình thức khác có thể tác động trở lại, kìm hãm hoặc thúc đẩy hoạt động sản xuất phát triển.
[03:31 - 03:35] Chính sự tác động qua lại này làm cho thực tiễn vận động, phát triển không ngừng và ngày càng có vai trò quan trọng đối với nhận thức.
[03:36 - 03:44] Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức được thể hiện ở chỗ, thực tiễn là cơ sở của nhận thức, là động lực của nhận thức, là mục đích của nhận thức và là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý.
[03:44 - 03:46] Thực tiễn là điểm xuất phát trực tiếp của nhận thức.
[03:46 - 03:51] Nó đề ra nhu cầu, nhiệm vụ, cách thức và khuynh hướng vận động, phát triển của nhận thức.
[03:51 - 03:57] Con người có nhu cầu tất yếu khách quan là giải thích và cải tạo thế giới, buộc con người phải tác động trực tiếp vào các sự vật, hiện tượng bằng hoạt động thực tiễn.
[03:58 - 04:04] Sự tác động đó làm cho các sự vật, hiện tượng bộc lộ những thuộc tính, mối liên hệ, đem lại tài liệu cho nhận thức, giúp nhận thức nắm bắt bản chất, quy luật.
[04:05 - 04:10] Có thể nói, suy cho cùng không có một lĩnh vực tri thức nào mà lại không xuất phát từ thực tiễn, không nhằm vào việc phục vụ, hướng dẫn thực tiễn.
[04:11 - 04:16] Nếu thoát ly thực tiễn, nhận thức sẽ xa rời cơ sở hiện thực, không thể có được tri thức đúng đắn và sâu sắc.
[04:16 - 04:24] Thực tiễn còn là cơ sở, động lực, mục đích của nhận thức vì nhờ có hoạt động thực tiễn mà các giác quan của con người ngày càng được hoàn thiện, năng lực tư duy logic không ngừng được củng cố và phát triển.
[04:25 - 04:29] Các phương tiện nhận thức ngày càng hiện đại, có tác dụng nối dài các giác quan của con người trong việc nhận thức thế giới.
[04:30 - 04:32] Ngoài ra, thực tiễn còn đóng vai trò là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý.
[04:33 - 04:36] Điều này có nghĩa là thực tiễn là thước đo giá trị của những tri thức đã đạt được trong nhận thức.
[04:37 - 04:41] Đồng thời, thực tiễn không ngừng bổ sung, điều chỉnh, sửa chữa, phát triển và hoàn thiện nhận thức.
[04:42 - 04:49] Các Mác đã viết: “Vấn đề tìm hiểu xem tư duy của con người có thể đạt tới chân lý khách quan hay không, hoàn toàn không phải là vấn đề lý luận mà là một vấn đề thực tiễn.
[04:49 - 04:51] Chính trong thực tiễn mà con người phải chứng minh chân lý.”
[04:52 - 04:56] Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức đòi hỏi chúng ta phải luôn luôn quán triệt quan điểm thực tiễn.
[04:56 - 05:03] Quan điểm này yêu cầu việc nhận thức phải xuất phát từ thực tiễn, dựa trên cơ sở thực tiễn, đi sâu vào thực tiễn, phải coi trọng công tác tổng kết thực tiễn.
[05:03 - 05:06] Việc nghiên cứu lý luận phải liên hệ với thực tiễn, học đi đôi với hành.
[05:07 - 05:12] Nếu xa rời thực tiễn sẽ dẫn đến sai lầm của bệnh chủ quan, duy ý chí, giáo điều, máy móc, quan liêu.
[05:12 - 05:16] Ngược lại, nếu tuyệt đối hóa vai trò của thực tiễn sẽ rơi vào chủ nghĩa thực dụng, kinh nghiệm chủ nghĩa.
[05:17 - 05:21] Phần thứ ba, chúng ta sẽ tìm hiểu về quá trình nhận thức và các cấp độ của nhận thức.
[05:21 - 05:30] Nhận thức là quá trình diễn ra rất phức tạp, bao gồm nhiều giai đoạn, trình độ, vòng khâu khác nhau, song đây là quá trình biện chứng đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn.
[05:31 - 05:34] Giai đoạn thứ nhất là trực quan sinh động, còn được gọi là giai đoạn nhận thức cảm tính.
[05:35 - 05:39] Đây là giai đoạn con người sử dụng các giác quan để tác động trực tiếp vào các sự vật nhằm nắm bắt chúng.
[05:39 - 05:42] Trực quan sinh động bao gồm ba hình thức là cảm giác, tri giác và biểu tượng.
[05:43 - 05:48] Cảm giác là sự phản ánh những thuộc tính riêng lẻ của các sự vật, hiện tượng khi chúng đang tác động trực tiếp vào các giác quan.
[05:48 - 05:54] Tri giác là hình ảnh tương đối toàn vẹn về sự vật khi sự vật đó đang trực tiếp tác động vào các giác quan, là sự tổng hợp của nhiều cảm giác.
[05:54 - 05:57] Biểu tượng là hình thức phản ánh cao nhất và phức tạp nhất của giai đoạn trực quan sinh động.
[05:58 - 06:04] Đó là hình ảnh có tính đặc trưng và tương đối hoàn chỉnh còn lưu lại trong bộ óc người về sự vật khi sự vật đó không còn trực tiếp tác động vào các giác quan.
[06:04 - 06:09] Trong nhận thức cảm tính đã tồn tại cả cái bản chất lẫn không bản chất, cái tất yếu và ngẫu nhiên, cái bên trong lẫn bên ngoài.
[06:10 - 06:12] Nhưng ở đây, con người chưa phân biệt được chúng.
[06:12 - 06:16] Yêu cầu của nhận thức đòi hỏi phải tách ra và nắm lấy cái bản chất, tất yếu, bên trong.
[06:17 - 06:21] Khi giải quyết mâu thuẫn ấy, nhận thức sẽ vượt lên một trình độ mới, cao hơn về chất, đó là tư duy trừu tượng.
[06:22 - 06:25] Giai đoạn thứ hai là tư duy trừu tượng, đặc trưng của giai đoạn nhận thức lý tính.
[06:26 - 06:31] Nhận thức lý tính là giai đoạn phản ánh gián tiếp, trừu tượng và khái quát những thuộc tính, những đặc điểm bản chất của đối tượng.
[06:31 - 06:36] Đây là giai đoạn nhận thức thực hiện chức năng quan trọng nhất là tách ra và nắm lấy cái bản chất có tính quy luật của các sự vật, hiện tượng.
[06:37 - 06:40] Nhận thức lý tính được thể hiện với ba hình thức: khái niệm, phán đoán và suy lý.
[06:41 - 06:44] Khái niệm là hình thức cơ bản của tư duy trừu tượng, phản ánh những đặc tính bản chất của sự vật.
[06:45 - 06:51] Phán đoán là hình thức của tư duy liên kết các khái niệm lại với nhau để khẳng định hoặc phủ định một đặc điểm, một thuộc tính nào đó của đối tượng.
[06:51 - 06:55] Suy lý là hình thức của tư duy liên kết các phán đoán lại với nhau để rút ra tri thức mới bằng phán đoán mới.
[06:56 - 07:01] Nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính là những nấc thang hợp thành chu trình nhận thức, thường diễn ra đan xen vào nhau.
[07:01 - 07:05] Nhận thức cảm tính gắn liền với hoạt động thực tiễn, là cơ sở cho nhận thức lý tính.
[07:05 - 07:14] Trong khi đó, nhận thức lý tính, nhờ có tính khái quát cao, lại có thể hiểu biết được bản chất, quy luật vận động và phát triển của sự vật, giúp nhận thức cảm tính có định hướng đúng và trở nên sâu sắc hơn.
[07:15 - 07:21] Tuy nhiên, nếu dừng lại ở nhận thức lý tính, con người mới chỉ có được tri thức về đối tượng, còn bản thân những tri thức ấy có chân thực hay không thì con người chưa biết được.
[07:22 - 07:27] Nhận thức nhất thiết phải trở về với thực tiễn, dùng thực tiễn làm tiêu chuẩn, làm thước đo tính chân thực của những tri thức đã đạt được.
[07:28 - 07:31] Có nhiều cách tiếp cận để tìm hiểu về các cấp độ của quá trình nhận thức.
[07:31 - 07:36] Nếu căn cứ trên mức độ thâm nhập vào bản chất của đối tượng nhận thức, có thể chia nhận thức thành nhận thức kinh nghiệm và nhận thức lý luận.
[07:36 - 07:42] Nhận thức kinh nghiệm là loại nhận thức hình thành từ sự quan sát trực tiếp các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội hay trong các thí nghiệm khoa học.
[07:42 - 07:47] Nhận thức lý luận là loại nhận thức gián tiếp, trừu tượng và khái quát về bản chất và quy luật của các sự vật, hiện tượng.
[07:47 - 07:51] Nhận thức kinh nghiệm là cơ sở của nhận thức lý luận, cung cấp tư liệu phong phú.
[07:51 - 07:55] Tuy nhiên, nhận thức kinh nghiệm còn hạn chế ở chỗ chỉ dừng lại ở sự miêu tả bề ngoài.
[07:55 - 08:00] Ngược lại, lý luận có thể đi trước những dữ kiện kinh nghiệm, hướng dẫn sự hình thành những tri thức kinh nghiệm có giá trị.
[08:01 - 08:06] Nếu căn cứ trên tính chất tự phát hay tự giác của quá trình nhận thức, có thể chia nhận thức thành nhận thức thông thường và nhận thức khoa học.
[08:06 - 08:13] Nhận thức thông thường là loại nhận thức được hình thành một cách tự phát, trực tiếp từ trong hoạt động hàng ngày của con người, phản ánh sự vật với tất cả những đặc điểm chi tiết, cụ thể.
[08:13 - 08:19] Nhận thức khoa học là loại nhận thức được hình thành một cách tự giác và gián tiếp từ sự phản ánh đặc điểm bản chất, những quan hệ tất yếu của đối tượng nghiên cứu.
[08:20 - 08:24] Mặc dù nhận thức thông thường có trước và là nguồn chất liệu cho khoa học, nhưng bản thân nó không thể tự chuyển thành nhận thức khoa học được.
[08:25 - 08:32] Ngược lại, khi đạt tới trình độ nhận thức khoa học, nó lại tác động trở lại nhận thức thông thường, làm cho nhận thức thông thường phát triển, tăng cường nội dung khoa học.
[08:32 - 08:34] Phần thứ tư, chúng ta sẽ đi vào vấn đề chân lý.
[08:35 - 08:36] Vậy chân lý là gì?
[08:36 - 08:41] Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng, chân lý là những tri thức phù hợp với hiện thực khách quan và được thực tiễn kiểm nghiệm.
[08:41 - 08:48] Chân lý là sản phẩm của quá trình nhận thức, được hình thành và phát triển dần dần từng bước và phụ thuộc vào điều kiện lịch sử cụ thể, vào hoạt động thực tiễn và hoạt động nhận thức của con người.
[08:49 - 08:56] Lênin đã nhận xét sự phù hợp giữa tư tưởng và khách thể là một quá trình, tư tưởng, tức con người, không nên hình dung chân lý dưới dạng một sự đứng im chết cứng.
[08:57 - 09:01] Chân lý có các tính chất quan trọng: tính khách quan, tính tương đối, tính tuyệt đối và tính cụ thể.
[09:02 - 09:06] Tính khách quan của chân lý là tính độc lập về nội dung phản ánh của nó đối với ý thức của con người.
[09:06 - 09:10] Nội dung của những tri thức đúng đắn thuộc về thế giới khách quan, do thế giới khách quan quy định.
[09:10 - 09:13] Chân lý không chỉ có tính khách quan mà còn có tính tuyệt đối và tính tương đối.
[09:14 - 09:19] Tính tuyệt đối của chân lý là tính phù hợp hoàn toàn và đầy đủ giữa nội dung phản ánh của tri thức với hiện thực khách quan.
[09:19 - 09:25] Về nguyên tắc, chúng ta có thể đạt đến tính tuyệt đối của chân lý, vì trong thế giới khách quan không tồn tại sự vật nào mà con người hoàn toàn không thể nhận thức được.
[09:26 - 09:31] Tính tương đối của chân lý là tính phù hợp nhưng chưa hoàn toàn đầy đủ giữa nội dung phản ánh của những tri thức với hiện thực khách quan.
[09:31 - 09:38] Điều đó có nghĩa là giữa nội dung của chân lý với khách thể được phản ánh chỉ mới phù hợp từng phần, ở một số mặt, một số khía cạnh nào đó trong những điều kiện nhất định.
[09:38 - 09:42] Tính tương đối và tính tuyệt đối của chân lý không tồn tại tách rời nhau mà có sự thống nhất biện chứng với nhau.
[09:43 - 09:45] Tính tuyệt đối của chân lý là tổng số các tính tương đối.
[09:46 - 09:49] Trong mỗi chân lý mang tính tương đối bao giờ cũng chứa đựng những yếu tố của tính tuyệt đối.
[09:50 - 09:53] Lênin viết chân lý tuyệt đối được cấu thành từ tổng số những chân lý tương đối đang phát triển.
[09:54 - 09:57] Chân lý tương đối là những phản ánh tương đối đúng của một khách thể tồn tại độc lập với nhân loại.
[09:57 - 09:59] Những phản ánh ấy ngày càng trở nên chính xác hơn.
[09:59 - 10:03] Mỗi chân lý khoa học, dù là có tính tương đối, vẫn chứa đựng một yếu tố của chân lý tuyệt đối.
[10:04 - 10:10] Nhận thức đúng đắn mối quan hệ biện chứng giữa tính tương đối và tính tuyệt đối của chân lý có ý nghĩa quan trọng trong việc phê phán và khắc phục những sai lầm cực đoan.
[10:10 - 10:14] Nếu cường điệu tính tuyệt đối của chân lý sẽ rơi vào chủ nghĩa giáo điều, bảo thủ.
[10:14 - 10:19] Ngược lại, nếu tuyệt đối hóa tính tương đối của chân lý sẽ rơi vào chủ nghĩa tương đối, dẫn đến chủ nghĩa chủ quan, thuyết hoài nghi.
[10:20 - 10:24] Ngoài tính khách quan, tính tuyệt đối và tính tương đối, chân lý còn có tính cụ thể.
[10:24 - 10:31] Tính cụ thể của chân lý là đặc tính gắn liền và phù hợp giữa nội dung phản ánh với một đối tượng nhất định cùng các điều kiện, hoàn cảnh lịch sử, cụ thể.
[10:31 - 10:38] Mỗi tri thức đúng đắn bao giờ cũng có một nội dung nhất định, gắn liền với một đối tượng xác định, diễn ra trong một không gian, thời gian hay một hoàn cảnh nào đó.
[10:38 - 10:41] Lênin đã viết: "Không có chân lý trừu tượng, rằng chân lý luôn luôn là cụ thể".
[10:42 - 10:45] Việc nắm vững nguyên tắc về tính cụ thể của chân lý có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng.
[10:46 - 10:51] Nó đòi hỏi khi xem xét, đánh giá mỗi sự vật, hiện tượng, mỗi việc làm của con người phải dựa trên quan điểm lịch sử, cụ thể.
[10:52 - 10:55] Phải xuất phát từ những điều kiện lịch sử cụ thể mà vận dụng những lý luận chung cho phù hợp.
[10:56 - 11:00] Như vậy, mỗi chân lý đều có tính khách quan, tính tương đối, tính tuyệt đối và tính cụ thể.
[11:00 - 11:04] Các tính chất đó của chân lý có quan hệ chặt chẽ với nhau, không tách rời nhau.
[11:04 - 11:09] Thiếu một trong các tính chất đó thì những tri thức đạt được trong quá trình nhận thức không thể có giá trị đối với đời sống của con người.
[11:10 - 11:11] Cảm ơn các bạn đã lắng nghe.
[11:12 - 11:18] Hi vọng những chia sẻ về lý luận nhận thức hôm nay đã giúp các bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về quá trình nhận thức của con người và vai trò to lớn của thực tiễn.
[11:18 - 11:22] Chúc các bạn luôn giữ tinh thần tìm tòi, học hỏi và áp dụng những kiến thức này vào cuộc sống.
[11:23 - 11:25] Hẹn gặp lại các bạn trong những buổi chia sẻ tiếp theo.