Bài Giảng Chương 7: Các Cặp Phạm Trù CB Triết Học Mác Lênin

Bài giảng trực tuyến tập trung vào Chương 7 môn Triết học Mác - Lênin theo giáo trình Bộ Giáo dục và Đào tạo, trình bày chi tiết về các cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật như nguyên nhân – kết quả, tất nhiên – ngẫu nhiên, khả năng – hiện thực, nội dung – hình thức và bản chất – hiện tượng. Bài giảng giúp sinh viên hiểu rõ lý thuyết, phát triển tư duy phản biện và vận dụng kiến thức hiệu quả trong học tập và thi cử.

Từ khoá: bài giảng triết học bài giảng trực tuyến giáo trình Bộ GD&ĐT học phần triết học lý luận chính trị phạm trù biện chứng triết học Mác - Lênin triết học đại cương ôn thi triết học

Phụ đề:

[00:00 - 00:04] Chào các bạn, rất vui được cùng các bạn tìm hiểu về những cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật.
[00:04 - 00:09] Đây là một trong những nội dung quan trọng giúp chúng ta có cái nhìn sâu sắc hơn về thế giới xung quanh và cách chúng ta nhận thức nó.
[00:10 - 00:12] Đầu tiên, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về khái niệm phạm trù.
[00:13 - 00:14] Phạm trù là gì?
[00:15 - 00:20] Phạm trù là những khái niệm rộng nhất, chúng phản ánh những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ chung và cơ bản nhất của các sự vật và hiện tượng.
[00:21 - 00:26] Mỗi bộ môn khoa học đều có một hệ thống phạm trù riêng của mình để phản ánh những mối liên hệ cơ bản và phổ biến thuộc phạm vi khoa học đó nghiên cứu.
[00:27 - 00:32] Ví dụ, trong toán học có phạm trù số, hình hay trong vật lý học có các phạm trù khối lượng, lực.
[00:33 - 00:45] Tuy nhiên, khác với các khoa học chuyên ngành, các phạm trù của triết học, đặc biệt là phép biện chứng duy vật là những khái niệm chung nhất, phản ánh những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ cơ bản và phổ biến nhất của toàn bộ thế giới hiện thực, bao gồm cả tự nhiên, xã hội và tư duy.
[00:45 - 00:49] Ví dụ, các phạm trù như vật chất, ý thức, vận động, mâu thuẫn đều thuộc về triết học.
[00:50 - 00:55] Mọi sự vật, hiện tượng đều có nguyên nhân xuất hiện, đều có quá trình vận động, biến đổi, đều có mâu thuẫn, nội dung và hình thức.
[00:56 - 01:01] Điều này có nghĩa là chúng đều có những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ được phản ánh trong các phạm trù của phép biện chứng duy vật.
[01:01 - 01:07] Giữa phạm trù của triết học và phạm trù của các khoa học cụ thể có mối quan hệ biện chứng với nhau, đó là quan hệ giữa cái chung và cái riêng.
[01:08 - 01:10] Vậy bản chất của phạm trù là gì?
[01:10 - 01:14] Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng các phạm trù không có sẵn trong nhận thức của con người một cách bẩm sinh hay tiên nghiệm.
[01:15 - 01:18] Chúng cũng không tồn tại sẵn ở bên ngoài và độc lập với ý thức của con người như quan niệm duy thực.
[01:19 - 01:22] Thay vào đó, phạm trù được hình thành trong quá trình hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người.
[01:23 - 01:31] Mỗi phạm trù xuất hiện đều là kết quả của quá trình nhận thức trước đó, đồng thời lại là bậc thang cho quá trình nhận thức tiếp theo của con người để tiến gần đến nhận thức đầy đủ hơn bản chất của sự vật.
[01:31 - 01:38] Anggen đã nhận xét rằng sự xuất hiện các nhân vật xuất sắc trong lịch sử là tất nhiên do nhu cầu xã hội phải giải quyết những nhiệm vụ chín mồi của lịch sử tạo nên.
[01:38 - 01:44] Các phạm trù được hình thành bằng con đường khái quát hóa, chịu tượng hóa những thuộc tính, những mối liên hệ vốn có bên trong của bản thân sự vật.
[01:44 - 01:50] Vì vậy, nội dung của nó mang tính khách quan, bị thế giới khách quan quy định, mặc dù hình thức thể hiện của nó là chủ quan.
[01:51 - 01:53] Hệ thống phạm trù luôn vận động, phát triển và được bổ sung.
[01:54 - 01:56] Điều này có nghĩa là nó không phải là một hệ thống đóng kín, bất biến.
[01:57 - 02:04] Khả năng nhận thức của con người thay đổi ở mỗi giai đoạn lịch sử, do đó, các phạm trù phản ánh thế giới khách quan cũng phải vận động và phát triển để phản ánh đúng đắn và đầy đủ hiện thực.
[02:05 - 02:09] Tiếp theo, chúng ta sẽ đi vào cặp phạm trù đầu tiên, cái riêng, cái chung và cái đơn nhất.
[02:10 - 02:13] Cái riêng là phạm trù chỉ một sự vật, một hiện tượng, một quá trình nhất định.
[02:13 - 02:20] Cái chung là phạm trù triết học dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính không những có ở một kết cấu vật chất nhất định, mà còn được lặp lại trong nhiều sự vật, hiện tượng hay quá trình riêng lẻ khác.
[02:21 - 02:28] Cái đơn nhất là phạm trù để chỉ những nét, những mặt, những thuộc tính chỉ có ở một sự vật, một kết cấu vật chất mà không lặp lại ở sự vật, hiện tượng, kết cấu vật chất khác.
[02:28 - 02:35] Ví dụ, thủ đô Hà Nội là một cái riêng, nó có những nét đơn nhất như phố cổ, hồ Gươm, những nét văn hóa truyền thống mà chỉ ở Hà Nội mới có.
[02:36 - 02:38] Về quan hệ biện chứng giữa chúng, có bốn điểm chính.
[02:39 - 02:43] Thứ nhất, cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng mà biểu hiện sự tồn tại của mình.
[02:43 - 02:45] Không có cái chung thuần túy tồn tại bên ngoài cái riêng.
[02:46 - 02:54] Ví dụ, không có cái cây nói chung tồn tại bên cạnh cây cam, cây quýt cụ thể, nhưng mỗi cây cụ thể đều có rễ, thân, lá, những đặc tính chung lặp lại ở nhiều cây riêng lẻ.
[02:55 - 02:57] Thứ hai, cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ với cái chung.
[02:58 - 03:01] Không có cái riêng nào tồn tại tuyệt đối độc lập, không có liên hệ với cái chung.
[03:02 - 03:10] Chẳng hạn, mỗi con người là một cái riêng, nhưng không thể tồn tại ngoài mối liên hệ với xã hội và tự nhiên, chịu sự tác động của các quy luật sinh học và xã hội, những cái chung trong mỗi con người.
[03:11 - 03:14] Thứ ba, cái riêng phong phú hơn cái chung, còn cái chung sâu sắc hơn cái riêng.
[03:15 - 03:18] Cái riêng phong phú hơn vì ngoài những đặc điểm chung, nó còn có cái đơn nhất.
[03:18 - 03:27] Cái chung sâu sắc hơn vì nó phản ánh những thuộc tính, những mối liên hệ ổn định, tất nhiên, lặp lại ở nhiều cái riêng cùng loại, gắn liền với cái bản chất, quy định phương hướng tồn tại và phát triển của cái riêng.
[03:28 - 03:32] Thứ tư, cái đơn nhất và cái chung có thể chuyển hóa lẫn nhau trong quá trình phát triển của sự vật.
[03:32 - 03:37] Cái mới ban đầu xuất hiện dưới dạng cái đơn nhất, sau đó hoàn thiện dần và trở thành cái chung, cái phổ biến.
[03:37 - 03:43] Ngược lại, cái cũ ban đầu là cái chung, cái phổ biến nhưng sau đó có thể mất dần và trở thành cái đơn nhất do không còn phù hợp.
[03:44 - 03:53] Về ý nghĩa phương pháp luận, vì cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng và biểu hiện thông qua cái riêng, nên chúng ta chỉ có thể tìm cái chung trong cái riêng, xuất phát từ cái riêng, từ những sự vật, hiện tượng dư lẻ.
[03:53 - 03:58] Trong hoạt động thực tiễn, chúng ta phải dựa vào cái chung, tức là lý luận để cải tạo cái riêng.
[03:58 - 04:03] Tuy nhiên, khi áp dụng cái chung, chúng ta phải tùy theo từng cái riêng cụ thể để vận dụng cho thích hợp.
[04:03 - 04:07] Đồng thời, cần tạo điều kiện thuận lợi để cái đơn nhất có lợi cho con người trở thành cái chung.
[04:08 - 04:10] Tiếp theo là cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả.
[04:10 - 04:16] Nguyên nhân là phạm trù chỉ sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau, gây ra một biến đổi nhất định nào đó.
[04:16 - 04:22] Kết quả là phạm trù chỉ những biến đổi xuất hiện do tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau gây ra.
[04:22 - 04:28] Cần phân biệt nguyên nhân với nguyên cớ và điều kiện, vì nguyên cớ và điều kiện không sinh ra kết quả, mặc dù chúng xuất hiện cùng với nguyên nhân.
[04:28 - 04:30] Mối liên hệ nhân quả có ba tính chất.
[04:31 - 04:36] Thứ nhất, tính khách quan, nghĩa là mối liên hệ nhân quả là cái vốn có của bản thân sự vật, không phụ thuộc vào ý thức của con người.
[04:37 - 04:44] Thứ hai, tính phổ biến, nghĩa là mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên và xã hội đều có nguyên nhân nhất định gây ra, không có hiện tượng nào không có nguyên nhân.
[04:44 - 04:50] Thứ ba, tính tất yếu, nghĩa là cùng một nguyên nhân nhất định, trong những điều kiện giống nhau sẽ gây ra kết quả như nhau.
[04:50 - 04:51] Về quan hệ biện chứng.
[04:52 - 04:54] Nguyên nhân sinh ra kết quả và xuất hiện trước kết quả.
[04:54 - 04:58] Tuy nhiên, không phải hai hiện tượng nào nối tiếp nhau về mặt thời gian cũng là quan hệ nhân quả.
[04:58 - 05:01] Mối quan hệ nhân quả là quan hệ sản sinh.
[05:01 - 05:06] Một kết quả có thể do nhiều nguyên nhân sinh ra và một nguyên nhân trong những điều kiện khác nhau cũng có thể sinh ra nhiều kết quả khác nhau.
[05:07 - 05:10] Nguyên nhân và kết quả có thể thay đổi vị trí cho nhau trong chuỗi nhân quả vô cùng.
[05:11 - 05:15] Một hiện tượng nào đó trong mối quan hệ này là nguyên nhân, nhưng trong mối quan hệ khác lại là kết quả và ngược lại.
[05:16 - 05:18] Kết quả sau khi xuất hiện lại có ảnh hưởng trở lại đối với nguyên nhân.
[05:19 - 05:24] Sự ảnh hưởng này có thể là tích cực, thúc đẩy sự hoạt động của nguyên nhân hoặc tiêu cực, cản trở sự hoạt động của nguyên nhân.
[05:25 - 05:32] Ví dụ, trình độ dân trí thấp là kết quả của kinh tế kém phát triển, nhưng nó lại kìm hãm việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, làm chậm phát triển kinh tế.
[05:32 - 05:38] Về ý nghĩa phương pháp luận, muốn tìm nguyên nhân phải tìm trong thế giới hiện thực, trong bản thân các sự vật, hiện tượng tồn tại trong thế giới vật chất.
[05:38 - 05:45] Cần phân loại các nguyên nhân, tìm ra nguyên nhân cơ bản, chủ yếu, bên trong, bên ngoài, chủ quan, khách quan để có biện pháp phù hợp.
[05:45 - 05:50] Đồng thời, cần khai thác, tận dụng các kết quả đã đạt được để thúc đẩy nguyên nhân phát huy tác dụng.
[05:50 - 05:52] Kế đến là cặp phạm trù tất nhiên và ngẫu nhiên.
[05:53 - 05:59] Tất nhiên là phạm trù chỉ cái do những nguyên nhân cơ bản bên trong của kết cấu vật chất quyết định và trong những điều kiện nhất định nó phải xảy ra như thế chứ không thể khác được.
[06:00 - 06:07] Ngẫu nhiên là phạm trù chỉ cái không do mối liên hệ bản chất, bên trong kết cấu vật chất quyết định mà do các nhân tố bên ngoài, do sự kết hợp nhiều hoàn cảnh bên ngoài quyết định.
[06:07 - 06:12] Do đó, nó có thể xuất hiện, có thể không xuất hiện, có thể xuất hiện như thế này, hoặc có thể xuất hiện khác đi.
[06:13 - 06:15] Cả tất nhiên và ngẫu nhiên đều có nguyên nhân.
[06:15 - 06:16] Về quan hệ biện chứng,
[06:17 - 06:23] Thứ nhất, tất nhiên và ngẫu nhiên đều tồn tại khách quan, độc lập với ý thức của con người và đều có vị trí nhất định đối với sự phát triển của sự vật.
[06:23 - 06:28] Nếu cái tất nhiên chi phối sự phát triển, thì cái ngẫu nhiên có tác dụng làm cho sự phát triển diễn ra nhanh hoặc chậm.
[06:29 - 06:32] Thứ hai, tất nhiên và ngẫu nhiên tồn tại trong sự thống nhất hữu cơ với nhau.
[06:32 - 06:36] Cái tất nhiên bao giờ cũng thể hiện sự tồn tại của mình thông qua vô số cái ngẫu nhiên.
[06:36 - 06:41] Còn cái ngẫu nhiên là hình thức biểu hiện của cái tất nhiên, đồng thời là cái bổ sung cho cái tất nhiên.
[06:41 - 06:43] Trong cái ngẫu nhiên ẩn giấu cái tất yếu.
[06:43 - 06:46] Thứ ba, tất nhiên và ngẫu nhiên có thể chuyển hóa cho nhau.
[06:46 - 06:49] Trong những điều kiện nhất định, tất nhiên có thể chuyển hóa thành ngẫu nhiên và ngược lại.
[06:50 - 06:58] Ví dụ, việc trao đổi vật này lấy vật khác trong xã hội công xã nguyên thủy lúc đầu chỉ là ngẫu nhiên, nhưng sau đó, nhờ sự phát triển lực lượng sản xuất, nó trở thành hiện tượng tất nhiên.
[06:58 - 07:04] Về ý nghĩa phương pháp luận, trong hoạt động thực tiễn chúng ta phải dựa vào cái tất nhiên nhưng cũng không được bỏ qua hoàn toàn cái ngẫu nhiên.
[07:04 - 07:09] Mặc dù cái ngẫu nhiên không chi phối sự phát triển của sự vật, nhưng nó có ảnh hưởng đến sự phát triển, đôi khi rất sâu sắc.
[07:10 - 07:13] Do vậy, cần có phương án dự phòng để chủ động đáp ứng những sự biến ngẫu nhiên có thể xảy ra.
[07:14 - 07:18] Muốn nhận thức được cái tất nhiên phải thông qua nghiên cứu, phân tích, so sánh rất nhiều cái ngẫu nhiên.
[07:19 - 07:21] Tiếp theo là cặp phạm trù nội dung và hình thức.
[07:22 - 07:26] Nội dung là phạm trù chỉ tổng hợp tất cả những mặt, những yếu tố, những quá trình tạo nên sự vật.
[07:26 - 07:32] Hình thức là phạm trù chỉ phương thức tồn tại và phát triển của sự vật, là hệ thống các mối liên hệ tương đối bền vững giữa các yếu tố của sự vật đó.
[07:32 - 07:36] Phép biện chứng duy vật chú trọng đến hình thức bên trong của sự vật, tức là cơ cấu bên trong của nội dung.
[07:37 - 07:38] Về quan hệ biện chứng,
[07:39 - 07:41] Thứ nhất là sự thống nhất giữa nội dung và hình thức.
[07:41 - 07:47] Nội dung và hình thức luôn gắn bó chặt chẽ với nhau trong một thể thống nhất, không có hình thức nào tồn tại thuần túy không chứa đựng nội dung và ngược lại.
[07:47 - 07:49] Tuy nhiên, sự thống nhất này có tính tương đối.
[07:50 - 07:55] Một nội dung trong quá trình phát triển có thể có nhiều hình thức thể hiện, và ngược lại, một hình thức có thể thể hiện nhiều nội dung khác nhau.
[07:56 - 08:00] Thứ hai, nội dung giữ vai trò quyết định đối với hình thức trong quá trình vận động phát triển của sự vật.
[08:00 - 08:05] Khuynh hướng chủ đạo của nội dung là biến đổi, còn hình thức thì tương đối bền vững và chậm biến đổi hơn so với nội dung.
[08:06 - 08:12] Khi nội dung biến đổi, hình thức sẽ trở nên lạc hậu và kìm hãm nội dung phát triển và sau đó hình thức sẽ phải thay đổi để phù hợp với nội dung mới.
[08:13 - 08:16] Thứ ba, hình thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại nội dung.
[08:16 - 08:20] Nếu phù hợp với nội dung, hình thức sẽ tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy nội dung phát triển.
[08:21 - 08:24] Ngược lại, nếu không phù hợp, hình thức sẽ ngăn cản, kìm hãm sự phát triển của nội dung.
[08:25 - 08:31] Về ý nghĩa phương pháp luận, trong nhận thức không được tách rời hay tuyệt đối hóa nội dung và hình thức, đặc biệt cần chống chủ nghĩa hình thức.
[08:31 - 08:34] Cần chủ động sử dụng nhiều hình thức đa dạng, linh hoạt để đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
[08:34 - 08:37] Phải căn cứ vào nội dung để nhận thức và cải tạo sự vật.
[08:37 - 08:41] Đồng thời, cần thường xuyên đối chiếu để hình thức phù hợp với nội dung, thúc đẩy sự phát triển.
[08:42 - 08:44] Bây giờ chúng ta sẽ đến với cặp phạm trù bản chất và hiện tượng.
[08:45 - 08:52] Bản chất là phạm trù chỉ sự tổng hợp tất cả những mặt, những mối liên hệ tất nhiên, tương đối ổn định bên trong sự vật, quy định sự vận động và phát triển của sự vật.
[08:52 - 08:55] Hiện tượng là phạm trù chỉ sự biểu hiện ra bên ngoài của bản chất.
[08:55 - 08:57] Cả bản chất và hiện tượng đều tồn tại một cách khách quan.
[08:58 - 09:03] Bản chất là cái tồn tại khách quan gắn liền với sự vật và hiện tượng là biểu hiện ra bên ngoài của bản chất cũng là cái khách quan.
[09:04 - 09:05] Về quan hệ biện chứng,
[09:06 - 09:07] có sự thống nhất giữa bản chất và hiện tượng.
[09:08 - 09:12] Bản chất luôn luôn được bộc lộ ra qua hiện tượng và hiện tượng nào cũng là sự biểu hiện của bản chất ở mức độ nhất định.
[09:13 - 09:18] Không có bản chất nào tồn tại thuần túy ngoài hiện tượng, đồng thời cũng không có hiện tượng nào hoàn toàn không biểu hiện bản chất.
[09:18 - 09:21] Sự thống nhất còn thể hiện ở chỗ bản chất và hiện tượng về căn bản là phù hợp với nhau.
[09:22 - 09:25] Tuy nhiên, sự thống nhất này cũng bao hàm cả sự mâu thuẫn.
[09:25 - 09:31] Bản chất phản ánh cái chung, cái tất yếu, quyết định sự tồn tại và phát triển của sự vật, còn hiện tượng phản ánh cái riêng, cái cá biệt.
[09:31 - 09:34] Hiện tượng phong phú hơn bản chất, còn bản chất sâu sắc hơn hiện tượng.
[09:35 - 09:38] Bản chất là cái tương đối ổn định, ít biến đổi, còn hiện tượng là cái thường xuyên biến đổi.
[09:39 - 09:43] Mâu thuẫn còn thể hiện ở chỗ bản chất là mặt bên trong ẩn giấu sâu xa, còn hiện tượng là mặt bên ngoài.
[09:44 - 09:50] Hiện tượng không biểu hiện hoàn toàn bản chất mà chỉ biểu hiện một khía cạnh của bản chất, biểu hiện bản chất dưới hình thức đã biến đổi, nhiều khi xuyên tạc bản chất.
[09:51 - 09:56] Về ý nghĩa phương pháp luận, muốn nhận thức bản chất của sự vật phải xuất phát từ những sự vật, hiện tượng, quá trình thực tế.
[09:56 - 10:01] Nhận thức là một quá trình phức tạp đi từ hiện tượng đến bản chất, từ bản chất ít sâu sắc đến bản chất sâu sắc hơn.
[10:01 - 10:07] Trong hoạt động thực tiễn, phải dựa vào bản chất của sự vật để xác định phương thức hoạt động cải tạo sự vật, không được dựa vào hiện tượng.
[10:07 - 10:10] Cuối cùng, chúng ta sẽ tìm hiểu về cặp phạm trù khả năng và hiện thực.
[10:11 - 10:13] Hiện thực là phạm trù chỉ những cái đang tồn tại trên thực tế.
[10:14 - 10:20] Khả năng là phạm trù chỉ cái chưa xuất hiện, chưa tồn tại trên thực tế, nhưng sẽ xuất hiện, sẽ tồn tại thực sự khi có các điều kiện tương ứng.
[10:21 - 10:26] Khả năng có thể phân loại thành khả năng tất nhiên, do quy luật vận động nội tại quy định và khả năng ngẫu nhiên do tương tác ngẫu nhiên quy định.
[10:27 - 10:34] Trong khả năng tất nhiên lại bao gồm khả năng gần, đã có đủ hoặc gần đủ điều kiện để biến thành hiện thực và khả năng xa, chưa đủ điều kiện cần thiết, còn phải trải qua nhiều giai đoạn.
[10:35 - 10:36] Về quan hệ biện chứng,
[10:37 - 10:43] khả năng và hiện thực tồn tại trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau, không tách rời nhau và thường xuyên chuyển hóa lẫn nhau trong quá trình phát triển của sự vật.
[10:44 - 10:49] Sự vận động phát triển của sự vật chính là quá trình biến khả năng thành hiện thực và trong hiện thực mới đó lại nảy sinh khả năng mới.
[10:49 - 10:54] Trong cùng những điều kiện nhất định, ở cùng một sự vật có thể tồn tại nhiều khả năng chứ không phải chỉ một khả năng.
[10:54 - 10:57] Điều này thể hiện tính phức tạp của mối quan hệ giữa khả năng và hiện thực.
[10:58 - 11:04] Ngoài những khả năng vốn sẵn có, trong những điều kiện mới thì sự vật sẽ xuất hiện thêm những khả năng mới, đồng thời bản thân mỗi khả năng cũng thay đổi theo sự thay đổi của điều kiện.
[11:05 - 11:09] Để khả năng biến thành hiện thực, thường cần không phải chỉ một điều kiện mà là một tập hợp nhiều điều kiện.
[11:10 - 11:14] Ví dụ, để một hạt thóc nảy mầm cần một tập hợp các điều kiện như nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng.
[11:15 - 11:20] Trong đời sống xã hội, hoạt động có ý thức của con người có vai trò hết sức to lớn trong việc biến khả năng thành hiện thực.
[11:20 - 11:25] Nó có thể đẩy nhanh hoặc kìm hãm quá trình, có thể điều khiển khả năng phát triển theo chiều hướng nhất định bằng cách tạo ra những điều kiện tương ứng.
[11:26 - 11:31] Về ý nghĩa phương pháp luận, trong hoạt động thực tiễn cần dựa vào hiện thực để định ra chủ trương, phương hướng hành động của mình.
[11:31 - 11:37] Tuy không dựa vào khả năng, nhưng chúng ta cũng phải tính đến các khả năng để việc đề ra chủ trương, kế hoạch hành động sát hợp hơn.
[11:37 - 11:44] Khi tính đến khả năng, cần phân biệt các loại khả năng gần, khả năng xa, khả năng tất nhiên và ngẫu nhiên để tạo các điều kiện thích hợp biến khả năng thành hiện thực.
[11:44 - 11:49] Cần chú ý đến việc phát huy nguồn lực con người, phát huy tính năng động sáng tạo để biến khả năng thành hiện thực, thúc đẩy xã hội phát triển.
[11:50 - 11:57] Tuy nhiên, cần tránh hai thái cực sai lầm, một là tuyệt đối hóa vai trò nhân tố chủ quan và hai là hạ thấp vai trò nhân tố chủ quan trong việc biến khả năng thành hiện thực.
[11:58 - 12:02] Như vậy, chúng ta đã cùng nhau tìm hiểu về các cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật.
[12:02 - 12:08] Hi vọng những kiến thức này sẽ giúp các bạn có một cái nhìn tổng quan và sâu sắc hơn về các quy luật vận động, phát triển của thế giới khách quan.
[12:08 - 12:10] Cảm ơn các bạn đã lắng nghe.